Mây ở đầu ô mây lang thang…

Thứ Năm, 21/07/2011, 15:09
Có những tác giả, ta phải đọc "một mình một đèn" trong đêm khuya tĩnh lặng mới mong thẩm thấu được hết cái hay của thơ họ. Lại có tác giả, ta phải vừa đọc vừa mở cửa đi ra cùng trời mây sông núi mới thấy hết được cái ý vị, cái bao la khoáng hoạt trong thơ họ, và càng đi nhiều, càng sống nhiều, càng thấy được nội lực của những câu thơ thoạt nghe có vẻ nhẹ nhàng, mong manh. Với tôi, thơ Quang Dũng ở vào trường hợp thứ hai. 

Vâng, có những ngày lang thang ở vùng ngoại ô, dẫu biết không phải thuộc "xứ Đoài mây trắng" của Quang Dũng, vậy mà trong tôi vẫn văng vẳng câu thơ:

Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì.

Lại có hôm, quanh co lượn xe men sườn một con sông (không rõ tên gì), câu thơ của Quang Dũng bất thần bay lượn trong đầu tôi, hết sức tự nhiên mà thân thương:

Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng.

Quang Dũng quê ở Phùng (làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây cũ - nay thuộc Hà Nội). Ông thuộc típ nhà thơ viết không nhiều, song lại rất ham đi. Những bức ảnh chụp ông và các đồng nghiệp còn lưu lại thường cho thấy cảnh ông đứng bên cạnh cột mốc ghi dấu một địa danh nào đó.

Trong thơ ông, các địa danh xuất hiện nhiều, ở ngay tên bài đã đành (Mắt người Sơn Tây, Ba Vì đón Bác, Bất Bạt đêm giao quân, Pha Đin, Hồng Phú Châu Giang…), mà có khi còn được lưu lại ở cuối mỗi bài thơ, như một sự ghi dấu có tính chất kỷ niệm đối với tác giả. Thật may mắn là tuy viết ít, nhưng "hồn vía" của vùng đất quê hương đã "nhập" vào những vần thơ rất đỗi hào hoa của Quang Dũng.

Nói không ngoa, Quang Dũng chính là người đã góp phần đưa xứ Đoài quê ông đến gần hơn với độc giả cả nước. Thời chống Pháp, có bao vùng đất trở nên điêu linh vì giặc giã, song nhiều người vẫn không quên vùng đất đá ong mà Quang Dũng nhắc tới trong bài Mắt người Sơn Tây: "Từ độ thu về hoang bóng giặc/ Điêu tàn ơi lại nối điêu tàn/ Đất đá ong khô nhiều suối lệ/ Em đã bao ngày em chứa chan".

Cũng vậy, có bao con đường được đón các chiến sĩ bộ đội hành quân qua, nhưng nhiều người vẫn nhớ một con đường trong thơ Quang Dũng: "Đường ấy sao khuya đằm nước mắt/ Trong vời như ngọc lá tre xanh/ Giếng làng còn ướt trăng trên đá/ Chim ngủ xôn xao động lá cành" (bài Đường làng).

Có bao nhà thơ từng viết về mây, viết uốn lượn, biến hóa là khác, song làm sao người đọc vẫn cứ thấy nhớ, cứ thấy ấn tượng trước áng mây trắng xuất hiện một cách… chân phương trong thơ Quang Dũng: "Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm/ Em đã bao ngày em nhớ thương" (bài Mắt người Sơn Tây).

Thơ Quang Dũng rất giàu hình ảnh, giàu thiên nhiên. Dường như cái sự khao khát vươn ra với trời mây sông nước đã ăn sâu vào máu ông, để rồi một lúc nào đó nó bung ra trong mấy câu thơ như một tiếng thở dài bức bối:

Mây ở đầu ô mây lang thang
Ôi! Chật làm sao
góc phố phường…
(bài Mây đầu ô).

Quang Dũng không phải là người đầu tiên dùng hai chữ "lang thang" để nhân cách hóa cái khát vọng của… mây. Trước ông, Hàn Mặc Tử cũng đã viết trong bài Tình quê: Mây chiều còn phiêu bạt/ Lang thang trên đồi quê. Quang Dũng muốn thông qua mấy chữ đó để thể hiện máu phiêu du, muốn vượt ra ngoài cuộc sống cách bức, "tù túng thiên nhiên" của mình.

Quả là, đọc Quang Dũng, bao giờ ta cũng bắt gặp những câu thơ mà tình cảm và thiên nhiên đan cài hài hòa, bổ trợ cho nhau, với những chữ cảm thán (ơi, ôi, lắm, nhớ thương, chứa chan…) khiến cảnh và tình luôn quấn quít, lắng đọng trong tâm trí người đọc…

Như đã nói, Quang Dũng là người ham đi. Và vì đi nhiều nên ông rất nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết. Bài Chiều núi mưa rào có những câu đầy ẩn ức:

Kỳ Sơn mây kéo nặng
Hoa trẩu rụng đầy đường
Sấm đầu mùa đã động
Sao động lòng tha hương.

Bao nhiêu thương nhớ, xao động chất chứa trong mấy câu thơ này. Chỉ những người "tối đâu là nhà, ngã đâu là giường", sẵn mang tâm trạng của kẻ lữ khách tha phương, luôn khao khát các chuyến đi mới có cảm giác "động lòng" khi nghe tiếng sấm đầu mùa ấy (trong Truyện Kiều, đoạn tả người anh hùng Từ Hải dứt áo chia tay nàng Kiều để mưu cầu nghiệp lớn, cụ Nguyễn Du cũng đã dùng tới hai chữ "động lòng": Nửa năm hương lửa đương nồng/ Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương/ Trông vời trời bể mênh mang/ Thanh gươm yên ngựa lên đàng thẳng dong, đúng là tâm trạng của những người Giang hồ quen thú vẫy vùng…). Hình ảnh những chiếc lá trẩu tan tác dưới nền đường, bên trên là bầu trời mây đen vần vũ đã làm nền cho người lữ hành Quang Dũng bày tỏ cảm xúc của mình.

Cảnh trong thơ Quang Dũng thường buồn, mang tâm trạng hoang hoải, cô đơn. Ông tỏ ra có biệt tài tả những cảnh trí trong không gian tĩnh lặng, đẹp một cách lẻ loi, đơn chiếc. Đây là những câu rất gợi trong bài thơ Thu: Long lanh bóng núi in sông biếc/ Buồn nhớ thương ai lòng hiu hiu/ Quạnh quẽ sắn nương rờn nắng ấm/ Ngõ trúc người ơi!Tịch mịch chiều!.

Không chỉ đẹp bởi hình ảnh đặc tả mà thơ Quang Dũng còn đẹp bởi cái cao cả, hào hiệp của tình người ẩn chứa bên trong. Nó làm cho cảnh trong thơ ông luôn sinh động, sông ra sông, núi ra núi chứ không "bẹp gí" như trường hợp Xuân Diệu từng viết: Cũng như xa quá nên ta chỉ/ Thấy núi yên như một miếng bìa.

Viết rất ít và một thời gian dài, ở ta, những bài thơ nổi bật nhất của Quang Dũng Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây không được phổ biến qua hệ thống sách báo chính thống bởi những yếu tố bị xem là "bi lụy", "tiểu tư sản". Nó chủ yếu  được lưu truyền qua các cuốn sổ tay hoặc qua truyền miệng. Không những ở miền Bắc, nó còn len lỏi đến với các độc giả miền Nam thời tạm chiếm.

Theo như thông tin mà nhà phê bình văn học Đặng Tiến một Việt kiều nhiều năm định cư tại Pháp cung cấp, thì "lớp thanh niên đô thị miền Nam đã yêu thơ Quang Dũng như một giấc mơ, một cuộc viễn du mà mình đã nhỡ đò" (bài Quang Dũng một thoáng mơ phai - sách Thơ - thi pháp và chân dung, NXB Phụ nữ, 2009).

Có một thời, chúng ta luôn yêu cầu mỗi tác phẩm phải mang tính đại diện. Vì thế, đọc Tây Tiến, các nhà quản lý văn nghệ e ngại nó làm sai lệch hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ. Họ không thể hài lòng khi ở những người lính Tây Tiến có gì đó phá cách: Quân xanh màu lá dữ oai hùm. Nói dũng cảm thì được, nói dữ oai hùm thì không thông.

Rồi thì Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm - mắt trừng đã là quá đà, là "gấu" lắm rồi, lại còn "mơ… dáng kiều thơm" thì vừa "gấu", vừa "lãng mạn tiểu tư sản" - thật khó chấp nhận! Những câu Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời nghe chừng thể hiện ở người lính một sự bi quan, ấy là chưa nói tới sự vô kỷ luật, trong khi "kỷ luật là sức mạnh của quân đội".

Cho đến trước thời kỳ đổi mới, ở cuốn Thơ Việt Nam 1945-1985 (NXB Văn học, 1985) - cuốn tuyển thơ được xem là qui mô nhất được xuất bản kể từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công tới thời điểm bấy giờ - các nhà làm sách vẫn không chịu chọn Tây Tiến là bài thơ đại diện cho sự nghiệp thơ của Quang Dũng - cũng là vì lẽ ấy.

Lênin từng nói: "Chúng ta có một cái dạ dày rất khỏe. Chúng ta có thể tiêu hóa được tất cả". Sự thực, nếu ta coi những người lính trong Tây Tiến của Quang Dũng là "đại diện" cho quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng thì quả… không ổn.

Tuy nhiên, chúng ta cần nhớ, ở thời kỳ đầu kháng Pháp, có mấy đơn vị quân đội của chúng ta được "chính quy"? Phần nhiều - nói như trong bài Nhớ của Hồng Nguyên Lũ chúng tôi/ Bọn người tứ xứ", vì chung lòng yêu nước mà tập hợp nhau lại, để rồi "Áo vải chân không/ Đi lùng giặc đánh, quân trang quân dụng nào đã có gì đâu? Các nhà thơ phải mày mò rất nhiều trong việc tìm ra đâu là hình ảnh "kiểu mẫu" cho anh bộ đội Cụ Hồ.

Ngay như Tố Hữu, người được xem là có những vần thơ hay về anh bộ đội vệ quốc, thì với những câu: Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều/ Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo/ Núi không đè nổi, vai vươn tới/ Lá ngụy trang reo với gió đèo cũng bị chê là chỉ nêu được "cái đẹp bên ngoài", tác giả tỏ ra còn "xa cách người chiến sĩ" (Báo Văn nghệ số 65, ra ngày 11/3/1955).

Nói vậy để chúng ta hiểu và thông cảm hơn với hình ảnh người lính Tây Tiến qua nét vẽ của Quang Dũng. Vả chăng, những người lính Tây Tiến đã từng tồn tại trong thực tế. Và nếu trong lực lượng quân đội hùng hậu của chúng ta, có thêm một đơn vị như những người lính Tây Tiến thì cũng đáng yêu chứ sao? Đó là một đơn vị được thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Lào - Việt và đánh tiêu hao binh lực địch để hỗ trợ cho các đơn vị khác hoạt động trên đất Lào.

Theo sử sách ghi lại (cuốn Trận đánh ba mươi năm, NXB Quân đội nhân dân, 1983) thì chiến dịch Tây Tiến là một chiến dịch rất khó khăn. Số chiến sĩ chết vì bệnh tật dọc đường cao hơn số người tử vong trong chiến đấu. Những người lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, nhiều người trong đó là học sinh các trường Sư phạm, Bưởi, Thăng Long, Văn Lang… nghĩa là thành phần trí thức khá đông.

Đa phần họ trưởng thành từ thời thuộc Pháp nên nếu có mang trong mình tố chất "tiểu tư sản" cũng là lẽ đương nhiên. Cái chính là trong họ luôn đậm tráng khí sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn, vì sự tồn vong của dân tộc. Đọc những câu: "Rải rác biên cương mồ viễn xứ/ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh/ Áo bào thay chiếu anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành", có ai trong chúng ta không rưng rưng nước mắt?

Chữ "rải rác" vốn ít được dùng để nói về những thứ cần coi trọng. Vậy mà ở đây lại dùng để nói về những… nấm mồ liệt sĩ, nghe thật xa xót! Đúng là trong chiến tranh, không phải lúc nào thi thể con người cũng được lo liệu chu đáo, không phải ai muốn an táng đâu là được toại nguyện? Thậm chí có những nấm mồ rất nhiều năm sau chưa chắc gia đình đã biết để mà tới thăm nom.

Thời chiến mà (nhà thơ Thâm Tâm đã mất trong một trận ốm khi đi công tác ở biên giới, phải nhiều chục năm sau các tổ chức, đoàn thể mới tìm được mộ ông). Những người lính Tây Tiến biết vậy và chấp nhận vậy vì Tổ quốc: Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh. Điều an ủi với họ có lẽ chính là: Họ chết nhưng không thấy đơn độc.

Những nấm mồ "rải rác biên cương" ấy đã nối lại thành chuỗi cánh tay của những người con từ nhiều miền quê xa ôm ghì lấy lưng đất Mẹ yêu dấu. Điều an ủi nữa, dẫu cái chết đến với họ bất thần, với đơn giản một lời Áo bào thay chiếu anh về đất, song đã có thiên nhiên an ủi: Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Câu thơ mang hàm ý: Vắng anh, sông tiếp tục cuộc hành trình cô độc của mình, nhưng phải chăng còn có nghĩa: Sông gầm lên, thay tiếng đại bác tiễn đưa anh về với đất?

Trong thi ca Việt Nam hiện đại, hiếm có bài thơ nào giàu nhạc tính, đọc lên nghe hào sảng như Tây Tiến. Vì ghi dấu ấn của những người lính "đa thành phần", "đa tính cách" của một giai đoạn chuyển tiếp của thời cuộc nên bài thơ có những nét đặc sắc, có thể coi là độc đáo, hiếm gặp trong mảng thơ viết về người lính của chúng ta.

7/7/2011

Phạm Khải
.
.
.