Lê Thái Tổ, lần duy nhất lau đá đề thơ

Thứ Ba, 21/10/2008, 11:00
Thăng long phi chiến địa? Chưa hẳn thế mà đã bao phen binh lửa! Chắc rồi đây nhiều bậc thức giả sẽ làm cái việc minh định thêm nhận xét của học giả Hoàng Xuân Hãn về vị vua Lê Lợi trong một lá thư gửi cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thủ tướng Phạm Văn Đồng: "Tôi đã có lúc biện-luận về điều khác biệt giữa sự thắng ngoại-xâm và sự giải-phóng đất nước.

Nước ta chỉ có hai cuộc giải-phóng mà thôi: Thời 1416-1427 với Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi, và thời 1945 - 1975 với Bác Hồ cùng các Anh. Tự nhiên cả hai mặt phải nhờ gắn-bó giữa mưu-lược lãnh-đạo và kiên-cường nhân-dân.

Khi ngoại-xâm thì nhân-dân ai cũng căm-tức và lo-sợ cho tương-lai; còn trong cuộc giải-phóng thì địch đã ở chung với nhân-dân lâu trong nước, rồi có thể dùng quyền-lợi để chia rẽ và giảm tinh-thần nhân-dân.

Vì vậy, cái cần-thiết nhất trong cuộc giải-phóng là cái ĐỨC của những người lãnh-đạo, cái Đức để cho địch không tìm cách mua-chuộc mình và làm gương cho nhân-dân giữ lòng yêu nước".

Trong phạm vi bài viết này, xin miễn cho kẻ hậu bối đây phải nối thêm lẫn lạm bàn về tài võ công văn trị của Bình Định Vương Lê Lợi và sau này là Lê Thái Tổ mà đang hồi tưởng lại chút bâng khuâng trong bảng lảng khói sương ngày ấy trên lòng hồ Sông Đà. Bên tôi là Ngài Lee Hong, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước CHDCND Triều Tiên tại Hà Nội và Anh hùng Lao động thời Đổi Mới Trần Thọ Chữ...

Người hùng từng xây dựng đường ngầm ở Công trình Thủy điện Sông Đà và Yaly Trần Thọ Chữ từng tu nghiệp nhiều năm tại CHDCND Triều Tiên nên có nhiều bạn bè, trong đó có Lee Hong đây, nay chững chạc ở vị thế Đại sứ. Nên mới có cuộc du ngoạn lòng hồ Sông Đà trong tiết tận xuân sơ hạ này.

Mênh mang tít tắp khoảng rờn xanh nước biếc của hồ bữa nay cũng là ngần ấy tít tắp trập trùng rờn xanh của rừng của núi ngày trước! Chỉ có thời công nghiệp mới có cảnh thương hải tang điền, sao dời vật đổi mau chóng nhường ấy? Chiếc ca nô chở chúng tôi dạt vào Đền Bờ. Một ngôi đền thiêng riêng của vùng lòng hồ và của vùng biên viễn...

Câu chuyện của  anh  Trần Thọ Chữ như trích đoạn của một tích sử lẫn truyền thuyết đẹp về hai người đẹp đồng thời là hai tù trưởng của Mường và Dao xứ Mường Lễ xửa xưa đã tận tâm tận lực cùng dân bản đã trợ giúp vua Lê Thái Tổ  việc vận chuyển quân lương tìm cách vượt thác dữ trong cuộc binh phạt gian nan khử trừ giặc phản loạn Đèo Cát Hãn thắng lợi.

Sinh vi tướng, tử vi thần. Những quyết định chiếu chỉ từ thời vua  Lê ấy cho mãi các đời vua sau phải lập đền thờ để tưởng thưởng công lao thờ cúng Hai Bà. Bà Chúa Thác Bờ đang ngự trong Đền thiêng kia. Chưa có cái may mắn cưỡi thuyền đuôi én ngược xuôi Sông Đà cũng là để nếm trải gian nan của câu ca Đường lên Mường Lễ bao xa/ Trăm bảy mươi thác trăm ba mươi ghềnh.

Nhưng cái hồi hẵng còn đang bình địa, công trình trị thủy Hòa Bình đang sắp sửa chịt cửa xả lũ cho nước duềnh lên thành lòng hồ, người thợ đường hầm kiêm thi sĩ Nguyễn Lương Ngọc đã đáp xe khách ba ngày đường đưa tôi từ thị xã Hòa Bình ngược lên Mường Lễ này để viếng bà Chúa Bờ lẫn dẫn đi coi khoảng đá đã rêu phong bài thơ của chính vua Lê Thái Tổ đề và sau được khắc tại núi Khác Pha (có bản chép là núi Pù Huổi) thuộc xã Hào Tráng, châu Đà Bắc.

Bài thơ như sau:

"Kỳ khu hiểm lộ bất từ nan/ Lão ngã do tồn thích thạch can/ Hào khí tảo không thiên chướng vụ/ Tráng tâm di tận vạn trùng san /Biên phòng hảo vị trù phương lược/ Xã tắc ưng tu kế cửu an/ Hư đạo nguy than tam bách khúc/ Như kim chỉ tác thuận hưu khan".

Có nhiều bản dịch bài thơ của vua Lê. Nhưng có hai bản được coi là khá: 

Đường hiểm cheo leo cứ tiến tràn/Ta già sắt đá vẫn bền gan/ Khí hào quét sạch hơi lam chướng/ Dạ vững san bằng núi ngút ngàn/ Tính việc biên phòng cho vững chắc/ Toan bề xã tắc được bình an/ Ai rằng thác réo ba trăm khúc/ Thuyền thả xuôi dòng hết hiểm gian/ (Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình dư địa chí, Ngô Mạnh Nghinh dịch, NXB Văn hóa Thông tin, tái bản năm 2001, tr. 418-419) Bản thứ hai chưa rõ tác giả.

Ngại gì hiểm trở đường xa/ Gan già vẫn sắt lòng già vẫn son/ Chí này san phẳng núi non/ Nghĩa này quét sạch ngàn cơn mây mù/ Biên cương năm liệu mười lo/ Sao cho xã tắc muôn thu thái hòa/ Ba trăm ghềnh thác băng qua/ Nay nhìn sông nước hóa ra thuận dòng.--PageBreak--

Thắp hương lễ Hai Bà xong chúng tôi thoải mái duỗi chân trên các bậc đá thoai thoải. Ngó ra ngoài hồ sông Đà mênh mông khói sóng, tôi bồi hồi nghĩ đến vách đá Hào Tráng khắc bài thơ hồi ấy nay đang chìm sâu dưới bao nhiêu thước nước! May mà phần đá vạch thơ được xén để chuyển đến nhà bảo tàng Hoà Bình.

Rồi ngôi đền thờ Hai Bà cũng được di dời đến đây... Rồi anh bạn thơ người thợ đường hầm Nguyễn Lương Ngọc nay đã là người thiên cổ... Chao ôi, mới có hai mươi năm mà bao biến thiên lẫn biến động? Chất giọng rất thuần Việt của Đại sứ Lee Hong thoảng bên cắt đứt dòng hồi tưởng bâng khuâng: "Nhà báo có biết vua Lê Thái Tổ có điểm chung với vua Hán Cao Tổ điều gì không?".

Bị đột kích bất ngờ, thấy người bị hỏi đang đờ ra moi trong trí nhớ, ngài Đại sứ bèn lưu loát rằng, cả hai vị đều là con thứ 3 trong nhà (trên Lưu Bang tức Hán Cao Tổ có Lưu Bá, Lưu Trung. Trên Lê Lợi tức Lê Thái Tổ sau này có Lê Học, Lê Trừ). Cả hai đều xuất thân từ áo vải, đều cực khổ trong những năm đầu mưu nghiệp lớn tầm cỡ xã tắc sơn hà.

Cả hai khi gặp nguy nan đều có người gánh hạn. Lưu Bang phải nhờ Hàn Tín ra hàng lừa giặc. Lê Lợi may nhờ Lê Lai liều mình cứu Chúa... Tôi sửng sốt mặc dầu trước khi đi anh Trần Thọ Chữ từng giới thiệu trước với tôi rằng đại sứ Lee Hong rất thạo nhiều thứ không ngờ ông lại thông kim bác cổ đến thế!

Ca nô lại lướt giữa điệp trùng non nước. "Đường lên Mường Lễ bao xa... Trăm bảy mươi thác trăm ba mươi ghềnh". Hóa ra câu ca dao ấy có trước cả thời Lê Lợi, xuất hiện trước cả thời Lê Thái Tổ nên vua mới có câu "Hư đạo nguy than tam bách khúc".

Được ngồi giữa những người vốn mặn mòi với lịch sử nước nhà lại thông kim bác cổ há lại chả sướng sao! Câu chuyện của anh hùng Chữ bỗng chốc gợi trong hun hút vòi vọi thẳm xa của chính sử thấp thoáng nét son.

Chỉ hai ngày sau khi đăng quang lên ngai vàng, vua Lê Thái Tổ đã xuống chiếu lệnh cho các vùng miền Đại Việt phải có báo cáo về triều đình những lăng tẩm miếu mạo thờ phụng các bậc vua chúa, các công thần có công với nước để vua biết mà ban cho kinh phí trông giữ cũng như sửa sang tu tạo.

"Lam Sơn Thực Lục" (tôi có thể mạnh dạn coi là cuốn hồi ký được lắm) về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn được đích thân nhà vua chỉ đạo biên soạn và tự mình viết bài tựa ký tên Lam Sơn Động chủ vẫn là bài học tươi rói đối với hậu thế rằng những sự kiện chính sử không thể ngụy tạo hay lồng động cơ cá nhân khi sử dụng thể loại hồi ký!

Rồi tót vời 4 năm đỉnh cao quyền lực, Lê Thái Tổ sáng suốt trông ra mối họa cát cứ.  Theo "Đại Nam nhất thống chí", châu Ninh Viễn còn có tên Mường Lễ; thời nhà Lý nằm trong đạo Lâm Tây, nhà Trần đặt ra đạo Đà Giang, cuối đời Trần đổi là trấn Thiên Hưng. Mường Lễ thuộc vùng biên viễn có nhiều dân tộc thiểu số.

Các vua Lý Trần trị nhậm theo lối ky my (na ná như là cai trị một cách lỏng lẻo. Các tù trưởng có quyền tự trị, theo lệ hằng năm mới phải nộp cống). Đời Hồ Quý Ly với nhiều công cuộc cải cách chắc chắn đã ảnh hưởng không ít quyền lợi của các tù trưởng...

Chính sự phiền hà để trong nước lòng dân oán hận (Đại cáo Bình Ngô). Hậu quả là Tù trưởng châu Ninh Viễn Đèo Cát Hãn kết oán với nhà Hồ, dâng biểu tố cáo rồi quy hàng nhà Minh.

Trước mối đe dọa nghiêm trọng nhà Minh sắp xâm lăng nước ta, cha con họ Hồ buộc phải sai Sứ thần Nguyễn Cảnh Chân sang Trung Quốc dâng một số đất thuộc châu Ninh Viễn. Trong giai đoạn này, Đèo Cát Hãn qui phục nhà Minh, đất Ninh Viễn được giao cho Vân Nam cai trị  cũng theo lối ky my.

Mặc dầu Đèo Cát Hãn đã từng có thái độ thiếu tích cực trong việc giúp nhà Minh đánh dẹp cuộc khởi nghĩa của Bình Định Vương Lê Lợi nhưng việc qui hàng của Đèo Cát Hãn đã biến châu Ninh Viễn nằm trong lãnh thổ Vân Nam.

Để cho Trung Quốc có thể vây bọc thêm phía ngang hông, tức miền Tây nước ta, xét về lâu dài là một mối hiểm nguy cho đất nước, phải chăng vì lý do này nên vừa mới hoàn thành cuộc giải phóng dân tộc và lên ngôi được 4 năm, vua Lê Thái Tổ đã phải thân chinh cầm quân ra trận đánh dẹp Đèo Cát Hãn để lấy lại châu Ninh Viễn?

Mục đích cuộc hành binh bảo tồn toàn vẹn lãnh thổ đã được vua thể hiện rõ trong bài thơ dẫn trên đây "Tính việc biên phòng cho vững chắc/ Toàn bề xã tắc (mới) được bình an!". Cần lưu ý rằng, trong trận đánh dẹp ấy,  trước sức mạnh của quân ta, Đèo Cát Hãn không đương nổi, nên phải cầu viện nhà Minh.

Sử chép, khi đó Đô đốc Mộc Ngang, thuộc tỉnh Vân Nam, muốn mang quân đi cứu, nhưng vua Minh là Tuyên Tông thì đã biết rõ thực lực của Đại Việt và còn đương bàng hoàng sau cú thảm bại của bè lũ Vương Thông Mã Kỳ Phương Chính... nên đã viện lẽ thoái thác, không muốn sa vào vũng lầy thêm một lần nữa!

Cuộc hành binh đánh dẹp tuy gian nan nhưng đã giành được toàn thắng. Trên đường thảnh thơi hồi kinh, ông vua Lê đã cho thuyền ghé vào vách núi đá Pù Huổi bên Thác Bờ này đây.

Lau đá đề thơ là cái thú tao nhã của các bậc đế vương lẫn danh Nho chí sĩ. Nhưng không như các vua chúa sau này những là Lê Thánh Tông, Trịnh Sâm... từng đạt kỷ lục về thú ma nhai (đề thơ trên đá) và hình như chỉ một lần duy nhất trong đời mình, vua Lê Thái Tổ đã lưu bút trên đá vùng Tây Bắc. Cần nói thêm, bên cạnh bài thơ còn có một bài tự nữa:

"Di địch là mối lo nơi biên thùy, từ xưa đã có như vậy. Hung Nô đời Hán, Đột Quyết đời Đường, các dân man tại Mường Lễ cũng như vậy. Trước đây dưới thời Trần Hồ, chính sự suy vi, phiên thần lộng hành; Cát Hãn noi theo thói cũ, cậy vào đất hiểm không chịu thuần phục. Nay Trẫm mang quân đi đánh dẹp, thủy bộ cùng tiến, bình định hoàn toàn, bèn chế bài thơ này để làm răn cho bọn tù trưởng man di đời sau không chịu hàng phục…".

Ngoài "Toàn Thư" sách "Cương Mục" có chép Đèo Cát Hãn bại trận phải trốn sang Ai Lao. Nhà vua đổi Mường Lễ thành Phục Lễ. Tháng 11 năm 1423, mùa đông, Đèo Cát Hãn và con là Mạnh Vượng xin hàng. Nhà vua đã tha tội cho Cát Hãn và phong làm Tư Mã.

... Ngồi trên mạn canô, tôi thử lần ngón tay bấm đốt. Như vậy sau cuộc đại thắng quân Minh xâm lược của Lê Lợi, Đại Việt mình được yên hàn bởi nạn xâm lăng cho mãi đến cái năm Quang Trung đại phá quân Thanh. Dằng dặc non 400 năm! Lại lần thêm, cái năm 1432 đánh dẹp Đèo Cát Hãn ấy, chỉ một năm sau vua Lê Thái Tổ băng hà ở tuổi ta 49. Sinh năm Ất Sửu, mất Quý Sửu (1433) ở ngôi mới được 5 năm. Ô hô, thương thay lẫn tiếc thay!

                                                    Lam Kinh, trọng thu Mậu Tý

.
.
.