Làm vua, biết nghe lời vợ
Nguyên phi Ỷ Lan từng nói với nhà vua về kế trị nước: "Muốn dân giàu nước mạnh thì phải biết nghe lời can gián của đấng trung thần, phải biết người, nghe họ nói, biết việc họ làm". Những điều này với vua Lý Thánh Tông không là mới nhưng khi nghe, ông rất thích thú vì đó là những lời của Nguyên phi!
Theo sách "Đại Việt sử ký toàn thư", vua Lý Thánh Tông tên huý là Nhật Tôn, là con trưởng của vua Lý Thái Tông. Mẹ vua là Kim Thiên Thái hậu, họ Mai. Tương truyền, Mai Hoàng hậu nằm mơ thấy mình nuốt mặt trăng vào trong bụng rồi có mang và sinh ra vua ở cung Long Đức năm 1023. Lên 5 tuổi (1028), Nhật Tôn được vua cha phong làm Đông cung Thái tử. Vua Lý Thánh Tông lên ngôi năm 1054, ở ngôi tới năm 1072, băng hà ở điện Hội Tiên, thọ 50 tuổi.
Chữ sáng khai tâm
Đông cung Thái tử được vua cha cho dạy dỗ cẩn thận và chu đáo để chuẩn bị cho tương lai. Ngay từ trẻ, chàng đã thông thạo kinh sử và sớm có óc tự cường. Tháng 8 năm 1033, vua Lý Thái Tông đã sắc phong Đông cung Thái tử làm Khai Hoàng Vương, cho ra ở cung Long Đức nằm ngoài cửa Trường Quảng, phía Đông thành Thăng Long.
Cũng trong năm đó, tháng 10, khi phải thân chinh đi dẹp loạn ở châu Trệ Nguyên, vua Lý Thái Tông cho Khai Hoàng Vương làm Giám quốc, tức là thay vua cha coi sóc chính sự. 10 tuổi mà phải gánh vác trọng trách như thế, hẳn cũng chẳng dễ dàng gì. Thế nhưng, Khai Hoàng Vương đã làm tròn sứ mệnh của mình, ít ra là trong gần hai tháng (tới ngày 1/12/1033), khi vua Lý Thái Tông dẹp xong loạn trở về kinh thành, mọi sự ở Thăng Long vẫn yên ổn.
27 năm liền, Khai Hoàng Vương sống ở vùng ngoại ô kinh thành nên tiếng là Thái tử nhưng chàng cũng không quá xa lạ với đời sống bình dân. Vốn tri thức thực tế này về sau rất cho ích cho vua Lý Thánh Tông, để ông thêm lòng thương dân ái quốc.
Đông cung Thái tử cũng sớm được vua cha cho thử sức trong những việc binh đao. Mùa đông năm 1042 (tháng 10 ngày 1), lần đầu tiên Đông cung Thái tử được vua cha cử làm Đô thống Đại nguyên soái đi dẹp loạn ở châu Văn (thuộc tỉnh Lạng Sơn hiện nay). Tháng ba năm 1043, Khai Hoàng Vương lại được vua cha cử làm Đô thống Đại nguyên soái đi dẹp loạn ở châu Ái (tức Thanh Hóa ngày nay)...
Tuy nhiên, vì vua cha sinh thời cũng là người cơ trí, nhìn xa trông rộng, quyết đoán, dám làm dám chịu, võ công không nhỏ nên chỉ tới khi Người thực sự cảm thấy mệt mỏi mới cho Hoàng Thái tử Nhật Tôn coi chầu nghe chính sự. Khi đó đã là mùa thu năm 1054 và Đông cung Thái tử đã bước sang tuổi "tam thập nhi lập" hơn một năm rồi. Sử gia Ngô Sĩ Liên nhận xét rằng, vua Lý Thái Tông làm việc này cũng là "sự bất đắc dĩ". Mãi tới ngày 1/10 năm đó, vua Lý Thái Tông băng hà tại điện Trường Xuân thì Hoàng thái tử Nhật Tôn mới chính thức lên ngôi.
Lòng nhân trị nước
Vua Lý Thánh Tông là người đã đổi quốc hiệu sang Đại Việt năm 1054, ngay sau khi lên ngôi. Một trong những việc đầu tiên ông làm trên ngôi báu là xuống chiếu dưỡng nông (mùa hạ năm 1056). Kể về lòng nhân của vua, sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép lại câu nói sau của Người trong mùa đông năm 1055. Khi ấy trời đại hàn. Trong cảnh rét mướt đó, bỗng dưng nhà vua nói với các quan đại thần: "Trẫm ở trong cung, sưởi than xương thú, mặc áo lông chồn còn rét thế này, nghĩ đến người tù bị giam trong ngục, khổ sở về gông cùm, chưa rõ ngay gian, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khổ vì giá rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vậy lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu và cấp cơm ăn ngày hai bữa".
Chuyện chỉ đơn giản thế thôi nhưng trước đó ở nước Việt, hình như chưa một ông vua nào nghĩ và nói như vậy. Sau này, khi chép lại câu chuyện trên, Quan viết sử của Quốc sử quán Triều Nguyễn có ngạo mạn phê thêm lời: "Còn dân lành thì sao!" (Sách "Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục"). Câu phê thực không phải nhẽ. Một ông vua đã thương được cả những người ở trong tù như thế, lẽ nào không thương dân lành?
Những câu chuyện ghi trong sử cũ có thể giúp chúng ta thấy rõ hơn rằng, vua Lý Thánh Tông quả thực muốn là một vị vua sáng suốt và nhân từ cho những người dân Đại Việt. Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép, tháng Tư, mùa hạ năm 1064, vua Lý Thánh Tông ngự ở điện Thiên Khánh xử kiện. Khi ấy, công chúa Động Thiên đứng hầu bên cạnh, vua chỉ vào công chúa, bảo ngục lại rằng: "Ta yêu con ta cũng như lòng ta làm cha mẹ dân. Dân không hiểu biết mà mắc vào hình pháp, trẫm rất thương xót. Từ nay về sau, không cứ gì tội nặng hay nhẹ đều nhất luật khoan giảm".
Có thể nhìn từ góc độ hôm nay, vua Lý Thánh Tông có vẻ như quá xuê xoa trước tội lỗi nhưng thử tưởng tượng gần nghìn năm về trước, trong chế độ phong kiến lấy luật hình tàn nhẫn làm trọng, nghĩ được như ông vua nhà Lý này cũng đã là cả một sự tôn vinh lòng nhân ái. Làm vua mà tỏ ra nghiêm khắc bao giờ cũng dễ hơn là tỏ ra hiền hậu.
Đó chính là điều mà Mạnh Tử đã nhắc: "Lấy ơn huệ nuôi dân, lấy nghĩa phải sai khiến dân". Nếu nhớ lại rằng, phải tới năm 1070 ở nước ta mới lập ra Văn Miếu Quốc Tử Giám, sai Hoàng Thái tử tới đó học tập nhưng những đạo lý Nho học dường như đã thấm sẵn trong tâm trí những ông vua như Lý Thánh Tông từ trước rồi.--PageBreak--
Sử gia Ngô Thì Sĩ (1726-1780), khi bàn về việc vua Lý Thánh Tông cho xây Văn Miếu Quốc Tử Giám, có trách: "Họ Lý làm vua đến đây đã năm mươi nhăm năm, thế mà bây giờ mới tôn thờ thánh hiền, thế chẳng phải là trước trọng đạo Phật rồi sau mới đến đạo Nho đó ru?", e rằng cũng không hẳn đã phải. Hơn nữa, ở một nước như Đại Việt, thờ đạo Phật trước rồi mới đến đạo Nho, có gì là không hợp lẽ?
Cũng vua Lý Thánh Tông là vị vua đầu tiên ở nước ta nghĩ tới việc cấp phí lương bổng tương đối thỏa đáng cho các ngục lại. Ông hiểu rằng, muốn để người giữ đạo thì phải giúp người ta đủ sống theo đúng đạo lý thông thường. Cũng sách "Đại Việt sử ký toàn thư" có ghi chuyện, năm 1067, vua Lý Thánh Tông đã sai cấp cho các ngục lại, mỗi người hai mươi quan tiền và trăm bó lúa, gọi đó là phí dưỡng liêm.
Theo sách "Lịch triều hiến chương" của Phan Huy Chú, dưới triều Lý, nói chung các quan trong triều cũng như ngoài lộ đều không có lương cố định. Những người làm quan kề cận với vua thì thỉnh thoảng được vua ban "ơn mưa móc". Còn những người làm quan ở bên ngoài thì được giao phó cho dân một làng để thu thuế ruộng đất, đầm, ao mà tự cân đối thu chi cho bản thân mình. Và tới năm 1057, nhờ vua Lý Thánh Tông mà các quan giữ việc ngục tụng mới bắt đầu được có lương bổng thường lệ. Âu cũng là một sự tiến bộ trong công cuộc xây dựng bộ máy tư pháp thời đó!
Đánh giá về những ưu điểm của vua Lý Thánh Tông, sách "Đại Việt sử ký toàn thư" nhấn mạnh những điểm sau: "Vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về thu phục người xa, đặt khoa bác sĩ, đặt lễ dưỡng liêm, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh, đáng gọi là bậc vua tốt...".
Biết nghe lời vợ nói phải
Nhìn vào đời thường, vua Lý Thánh Tông tuy không bị mang tiếng là đam mê tửu sắc nhưng quả thực cũng là người thích sự lãng mạn và chuyện tình yêu, ở tầm đế vương như thời đại mà ông sống cho phép. Có thể nói, ông là một vị vua đa cảm, đa tình. Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" cũng ghi lại chuyện, năm 1061, ở tuổi gần 40, nhà vua còn cho "chọn con gái dân gian 12 người vào hậu cung".
Giai thoại về tình yêu và hôn nhân giữa vua Lý Thánh Tông với mỹ nhân làng Thổ Lỗi đến nay vẫn là một trong những câu chuyện tình đẹp nhất cổ kim ở nước ta. Số là, tới ngoài tứ thập rồi nhưng nhà vua vẫn chưa có con trai nối dõi, bèn đi cầu tự khắp các chùa. Một bận lễ chùa xong về qua làng Thổ Lỗi (Thuận Thành, Bắc Ninh), thấy dân gian nô nức ùa ra đón xa giá, duy chỉ có một thôn nữ cứ một mình bẽn lẽn đứng tựa vào đám cỏ lan ngoài bãi dâu. Vua lấy làm lạ, vời vào xem mặt. Đẹp, đẹp quá! - vua không muốn làm gì khác ngoài việc sai đưa cô Lê Thị Yến (tên người thôn nữ) về cung, lập làm phu nhân.
Người đẹp lấy tên hiệu là Ỷ Lan phu nhân, để nhớ tới bụi cỏ lan đã làm chứng cho tình yêu lớn lao nảy nở đột ngột ngoài nương dâu. Được vua yêu chiều và duyên trời cũng thuận nên chẳng bao lâu sau, mùa xuân năm 1066, Ỷ Lan phu nhân sinh hạ Hoàng tử Kiền Đức. Vua Lý Thánh Tông mừng lắm, một ngày sau khi hoàng tử được sinh hạ đã lập con trai làm Thái tử và phong Ỷ Lan phu nhân làm Thần phi, lại gọi là Nguyên phi. Làng Thổ Lỗi vì là sinh quán của Nguyên phi nên được đổi tên thành làng Siêu Loại.
Xuất thân bình dân nhưng Nguyên phi Ỷ Lan lại rất chăm chỉ việc trau dồi tri thức, không chỉ trong những lĩnh vực nữ nhi mà cả trong các chuyện an dân trị quốc. Vì thế nên bà có ảnh hưởng rất lớn không chỉ đối với con trai mà cả với vua Lý Thánh Tông.
Bà từng nói với nhà vua về kế trị nước: "Muốn dân giàu nước mạnh thì phải biết nghe lời can gián của đấng trung thần, phải biết người, nghe họ nói, biết việc họ làm. Thuốc đắng uống khó chịu nhưng chữa được bệnh. Điều thứ hai là phải xem quyền hành là một thứ đáng sợ. Tự mình tu đức để giáo hóa dân thì sâu hơn mệnh lệnh, dân bắt chước người trên thì nhanh hơn pháp luật. Nước muốn mạnh, hoàng đế còn phải nhân từ với muôn dân.... Xưa nay ai được nhân tâm thì hưng thịnh, ai cậy vào sức thì sẽ mất. Phàm cái xoay thế ở thiên hạ, ở trí chứ không ở sức, thu tấm lòng thiên hạ ở nhân chứ không phải ở bạo. Hội đủ những điều kiện ấy, nước Đại Việt sẽ vô địch". Thực ra, những điều này với vua Lý Thánh Tông không là mới nhưng khi nghe, ông rất thích thú vì đó là những lời của Nguyên phi!
Năm 1069, vua Lý Thánh Tông mang quân đi đánh Chiêm Thành, dằng dai mãi chưa phân thắng bại. Việc chính sự ở nhà được giao cho Nguyên phi lo giúp. Đúng lúc nhà vua hơi nản chí vì việc quân không có tiến triển gì mấy nên định thoái lui thì ông nhận được tin từ hậu phương: "Nguyên phi giúp việc nội trị, lòng dân cảm hóa hòa hợp, trong cõi vững vàng, tôn sùng Phật giáo, dân gọi là bà Quan Âm" (sách "Đại Việt sử ký toàn thư").
Thế là vua Lý Thánh Tông cảm thán: "Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay sao!". Rồi vua như được tiếp thêm dũng khí và lại tiến quân lên phía trước. Trận ấy vua giành được đại thắng...
Những người phụ nữ như Nguyên phi Ỷ Lan xứng đáng được xếp vào các bậc "ích phu vượng tử". Nghe lời vợ trong những trường hợp như thế này là biết nghe theo điều hay lẽ phải
