Hoàng Vĩnh Giang và những giấc mơ vàng

Thứ Ba, 08/01/2008, 14:45
Do đặc thù công tác nên tôi có may mắn quen và biết nhiều người thuộc giới thể thao, trong đó có Hoàng Vĩnh Giang, một người đã gắn bó cả cuộc đời vì sự nghiệp thể thao nước nhà, mười mấy năm ở cương vị Giám đốc Sở Thể dục - Thể thao Thủ đô. Dẫu đã tới tuổi hưu trí nhưng ông vẫn còn nặng nợ với nghề - vẫn đương kim Phó Chủ tịch Olympic Việt Nam.

Tôi biết ông kỳ cựu giám đốc này từ một sự tình cờ - tình cờ trong "thóc mách" của dư luận xã hội - trong một cuộc họp tổng kết năm của ngành Thể dục - Thể thao (TDTT), tôi rất chú ý tới ý kiến của một vị giám đốc địa phương.

Vóc dáng khỏe mạnh. Gương mặt khôi ngô, tuấn tú. Ý kiến ngắn gọn, khúc chiết đầy tính thuyết phục. Tôi hỏi nhỏ người ngồi bên và được "rỉ tai" lại: "Con trai cụ Hoàng Minh Giám đấy. Vừa bị vợ bỏ". "A!...". Tôi thốt lên.

Lời tâm sự ngắn gọn ấy đã kích động tính tò mò trong tôi: "Con trai Giáo sư Hoàng Minh Giám, một trí thức nổi tiếng đi theo cách mạng; đã từng là Đổng lý văn phòng Bộ Nội vụ Chính phủ lâm thời năm 1945; một vị Bộ trưởng Bộ Văn hóa lâu nhất (từ năm 1955 đến 1979). Gia đình danh giá vậy sao không nối nghiệp cha?... Sao lại bị vợ bỏ?...".

Nghĩ thế rồi lại tự buồn cười vì sự lẩm cẩm của mình. Mỗi người đều có sở thích riêng, cái nghiệp riêng, đâu phải ai cũng nối gót theo nghề mẹ cha. Thiếu gì người cha mẹ văn chương thơ phú đầy mình mà con viết một lá thư tình không xong.

Cứ suy từ mình mà ra: Bố mẹ nông dân chính hiệu, cớ sao mình lại dính vào cái nghiệp văn chương thơ phú để đày ải cả đời bởi những dằn vặt, xót xa trước bao điều trái ngang phi lý; để rồi, đôi khi phải tự an ủi mình. Âu đó cũng là cái nghiệp. "Đã mang lấy nghiệp vào thân...". Còn cái chuyện tình đời của anh ta ư? Đâu phải chỉ có Hoàng Vĩnh Giang!

Thời nay có mà nhan nhản, khi bạc vàng trọng hơn tình nghĩa; khi mà tư tưởng vong hương, vọng ngoại chế ngự trên đầu một số người, nhất là những người đàn bà hám lợi, hám tiền, nhìn mấy ông Tây xỉa đôla như xỉa tiền âm phủ, mắt cứ sáng lên như ánh Sao Hôm thì có mà giời cũng không ngăn nổi "cái sừng" cắm lên đầu mấy ông chồng tội nghiệp, bởi đồng lương còm cõi thời bao cấp không đủ cho cô vợ mất gốc đua đòi son phấn, chạy theo mốt thời đại...

Cố xua đi những suy nghĩ vẩn vơ, dằn vặt để thân làm tội đời thì đùng một cái, giữa năm 1989, ký ức trỗi dậy trước cái tin đột ngột: Tôi được cấp trên giao trách nhiệm tham gia Đoàn thể thao Việt Nam dự Đại hội Thể thao các nước khu vực Đông Nam Á lần thứ 15 (SEA Games 15) được tổ chức tại Kuala Lumpur (thủ đô Malaysia) với cương vị Phó trưởng đoàn, tham mưu trong công tác đảm bảo an ninh, an toàn.

Lãnh đạo Đoàn còn 2 người nữa: anh Trịnh Ngọc Chữ, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục TDTT làm Trưởng đoàn và Giám đốc Sở TDTT Hà Nội Hoàng Vĩnh Giang làm Phó trưởng đoàn phụ trách chuyên môn. Đây là Đại hội thể thao khu vực được tổ chức 2 năm một lần vào các năm lẻ.

Đại hội lần thứ nhất (SEA Games 1) tổ chức năm 1959, tới SEA Games 15, Việt Nam mới chính thức tham gia với tư cách đĩnh đạc Đoàn thể thao của nước Việt Nam thống nhất. Tuy nhiên, theo tỉ lệ dân số thì đoàn ta tham dự với số lượng rất khiêm tốn, hình như khiêm tốn nhất so với các đoàn, cả về số lượng vận động viên và các môn thi đấu. Tất tật, chỉ có 59 người.

Bởi thế, khi xem truyền hình trực tiếp lễ khai mạc, nhiều người phàn nàn trách cứ: "Sao ky bo thế! Mang chuông đi đấm nước người mà lèo tèo mấy chục mống, trông mà phát ngượng!...". Thật khổ, cái khó bó cái khôn. Ai chả muốn đi cho hoành tráng nhưng khốn nỗi cái thủ tục "đầu tiên" - tiền đâu?

Đất nước sau chiến tranh trăm ngàn cái khó, lại bị người ta bao vây, cấm vận kinh tế đến khốn khổ, khốn nạn, cộng với bao nhiêu thứ bệnh chồng chất: chủ quan, duy ý chí, bảo thủ, quan liêu, giáo điều, kém cỏi về quản lý... đẩy nền kinh tế đến cùng cực, nghèo hết chỗ nói. Dẫu rằng nhờ có lối thoát là con đường đổi mới, mở cửa thì cũng chỉ mới có 2 năm.

Bởi thế, thêm một người xuất ngoại là nở thêm tỉ lệ chi ngoại tệ. Tham gia hoạt động này là các nước hoàn toàn tự lực kinh phí từ ăn ở, đi lại cho tới tiền tiêu vặt cho mỗi thành viên. Một sự thật bây giờ nói ra chẳng ai tin, ấy là cái khoản tiền tiêu vặt khiêm tốn nhất trần gian.

Với trách nhiệm Phó đoàn, tôi được cấp mỗi ngày 1,4 USD. Tổng cộng 18 ngày được 25,2 USD. Thế đấy! Nếu không nhờ cái nhẫn 1 chỉ vàng kỷ niệm của một bạn chiến trường đem theo phải thắt lòng, thắt dạ bán ở Kuala Lumpur được 39 USD mua quà cho bè bạn, người thân thì có mà ế mặt.

Bởi, thời đó xuất ngoại là oai lắm. Cả cơ quan, làng xã đều biết "phen này bố nó đi Tây". Cái khoản đi lại thời đó cũng rất nhiêu khê. Đường tới Malaysia có đáng là bao, vậy mà vẫn phải quá cảnh Bangkok. Khi về còn phải dừng lại ở Thái Lan tới 2 ngày mới có chuyến về Hà Nội.

Cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa tôi với Hoàng Vĩnh Giang diễn ra ngay sau buổi họp lãnh đạo đoàn. Cảm giác ban đầu của tôi, đó là con người vui vẻ, xởi lởi, dễ gần.

Dường như hiểu được nỗi băn khoăn của tôi về chuyên môn ngành TDTT nên Giang vào đề ngay: "Có quan bác tham gia, thật may mắn cho đoàn. Cái quan trọng bậc nhất vẫn là phải đảm bảo an ninh, an toàn tuyệt đối. Kỳ này ta chưa hy vọng đạt thành tích cao. Chủ yếu là thăm dò đội bạn để chuẩn bị cho SEA Games tới.

Mà cho dù thành tích cao đến mấy mà đi đông, về không đủ kể ra thì cũng buồn. Trách nhiệm của quan bác nặng nề lắm. Còn chuyên môn thì vô tư đi. Bọn này quán xuyến được...".

Tôi thở phào nhẹ nhõm. Thật không ngờ cái anh chàng tưởng như chỉ nặng về chuyên môn thuần túy kia lại am hiểu và cảm thông với công tác của mình như vậy.--PageBreak--

Tới Kuala Lumpur, cả đoàn ở chung một khách sạn. Cố nhiên cũng là một khách sạn "khiêm tốn" về giá cả. Lãnh đạo được bố trí phòng riêng. Tôi và Hoàng Vĩnh Giang ở phòng kế nhau nên rất thuận lợi khi cần trao đổi công việc.

Vì là lần đầu tiên Việt Nam tham gia nên bạn đón tiếp rất chu đáo. Lãnh đạo đoàn được bố trí hai xe con, đều có in chữ Việt Nam thật to hai bên sườn xe. Trưởng đoàn một xe và hai phó đoàn chung một chiếc. Nhiều môn thi đấu cách xa Trung tâm.

Cổ động viên chủ yếu là "ta động viên mình", vì thời đó người Việt sinh sống ở Malaysia rất ít. Bởi vậy chiếc xe của hai phó đoàn thường xuyên bon bon trên đường và có mặt ở hầu hết các điểm thi đấu. Nhiều khi tới mười một, mười hai giờ đêm mới về tới khách sạn.

Những ngày Đoàn Việt Nam không có lịch thi đấu, tôi đều bị Phó đoàn chuyên môn "ép" đi cùng. Có hôm vì quá mệt, tôi vui đùa: "Say nghề như say người tình như thế, hèn chi vợ nó tếch là phải. Mình cần đi để cổ vũ cho đoàn mình thôi, còn họ đấu với nhau thì đi làm gì".

Giang cười hề hề: "Cái số tôi nó vậy. Mà này, quan bác đừng quan niệm là ta đi xem. Đúng nghĩa là ta đi khảo sát. Xem họ về để chuẩn bị cho mình. Nhất là những môn năm nay mình không tham gia lại càng cần xem. Thậm chí còn phải quay hình về để nghiên cứu nữa chứ...".

Thì ra thế! Người ta nói "cái máu nghề nghiệp" là vậy. Dân ngoại đạo như mình đâu có nghĩ xa trông rộng được như vậy. Nhìn hình ảnh Hoàng Vĩnh Giang với quần bò, áo phông, với lỉnh kỉnh máy ảnh, camera... quay rồi chụp, chụp rồi lại quay.

Có những cảnh phải áp máy sát xuống mặt đất để quay, tôi cười thầm: "Anh ta như là một phóng viên truyền hình chứ không phải là một nhà thể thao chính hiệu". Những lúc ấy, tôi nghiễm nhiên trở thành phóng viên phụ xách túi theo sau.

Mỗi chuyến đi khảo sát về, tôi cảm thấy Giang đều hồ hởi. Có hôm vừa bước chân lên xe đã nghe anh xuýt xoa: "Tiếc quá! Giá như hôm nay ta đi thêm môn đá cầu thì có khi ôm giải vàng về chứ không đùa".

Lần khác, anh lại cao hứng hơn: "Đi sâu mới biết, thiên hạ cũng thường thôi. Kỳ SEA Games tới dứt khoát ta phải đưa thằng cầu mây với thằng pencaksilat đi.Hai thằng này đảm bảo sẽ có vàng cầm tay".

Rồi lại lần khác, hình như đã khuya lắm rồi, tôi đã đánh được một giấc ngon lành bỗng nghe tiếng chuông liền bật dậy. Đang mắt nhắm mắt mở đã nghe giọng Giang đầy hứng khởi: "Quan bác này. Hay lắm! Tôi vừa xem lại băng quay sáng nay. Còn mấy thằng ngon ăn nữa, đó là wushu và taekwondo. Cứ gọi là "vàng như chơi" quan bác ạ...".

Thế là cả đêm đó tôi trằn trọc không sao ngủ lại được. Cứ bâng khuâng suy nghĩ về cái anh chàng tưởng như lập dị kia. Một con người say nghề đến kỳ lạ. Ở thời buổi mà không ít cán bộ, viên chức tắc trách, thờ ơ với công việc, tất cả đều chung một ruộc "sáng cắp ô đi tối cắp về" nên mới nảy sinh câu cửa miệng nghe đến nẫu lòng "cán bộ giả vờ đi làm".

Tình cảm yêu ngành, yêu nghề, tận tâm vì công việc... trở thành sáo rỗng, giáo điều! Có nhiều nguyên nhân, song có một nguyên nhân quan trọng bắt nguồn từ đời sống, tiền lương. Bởi thế mới xuất hiện câu cửa miệng thứ hai "cán bộ giả vờ lĩnh lương".

Lương thấp, quá thấp. Vậy mà người ta vẫn sống nhăn. Đó là nguyên nhân dẫn tới câu cửa miệng thứ ba "chân ngoài dài hơn chân trong". Ngoài ở đây là ngoài xã hội. Còn trong là trong cơ quan, đơn vị. Thời gian, sức lực dành cho cái "chân ngoài" là chính.

Song, về thời gian thì làm sao mà "cấu" vào tám giờ vàng ngọc được. Đi muộn mấy phút, về sớm mấy phút là mất thi đua như chơi. Mất béng cái khoản khen thưởng cuối năm (cho dù chỉ bằng mấy chục đồng). Như vậy, chỉ còn mỗi khoản sức lực thuộc về vốn tự có của mỗi người thì thả sức mà "cấu".

Nói vậy nhưng không dễ như vậy. Không phải ai cũng có thể "cấu sức lực" của mình vì miếng cơm manh áo. Nó còn phụ thuộc vào tính khôn ngoan, nhạy cảm, mối quan hệ giao tiếp của từng người mới làm được.

Chẳng thế mà cũng có người hết giờ làm việc cơ quan là nằm khoèo, tung hô "vạn tuế lương, muôn năm lương"; nhưng lại không ít người "cày" cả đêm, không biết chủ nhật là gì với đủ thứ nghề tạp nham: cuốn thuốc lá, lạc rang húng lìu, băm bèo nuôi heo, nuôi gà công nghiệp... người nào có sức khỏe, có người quen dắt mối thì bốc, xếp thuê ở các nhà kho, nhà ga, bến tàu...

Sáng ra, chưa có cái gì bỏ vào bụng đã hộc tốc guồng xe tới cơ quan. Ngữ ấy, giấu đi đâu nổi cái hình ảnh đói ăn, thèm ngủ, vô hồn... Cứ ngồi ngáp ngắn, ngáp dài là phải. Thương nhau "lòng vả cũng như lòng sung", ai nỡ đưa ra góp ý phê bình.

Trong bối cảnh ấy lại đốc chứng mọc ra một anh xuất thân con nhà gia giáo, chữ nghĩa, năng lực nghề nghiệp đầy mình, say nghề, lao vào công việc như con thiêu thân lao vào ánh sáng thì quả là nghịch lý, để đến nỗi có đứa độc mồm độc miệng bảo là gã dở hơi, lập dị... thật chẳng oan tí nào!

Tôi thêm nể phục Hoàng Vĩnh Giang không phải chỉ ở máu say nghề mà còn ở quan hệ xã giao của Giang nữa. Dường như lọt vào chỗ nào, anh ta cũng giao dịch được. Giang biết tiếng Anh, tiếng Nga và cả tiếng Trung Quốc nữa.

Một hôm Giang rủ tôi vào cửa hàng dụng cụ TDTT (nói là để khảo sát thị trường). Trong lúc tôi mải mê xem, bỗng nghe một tràng tiếng Trung Quốc phát ra từ phía sau, tiếp theo là tiếng cô chủ bán cửa hàng: "Hảo! Hảo... sây si.. sây si...".

Tôi giật mình quay lại. "Ôi!...", tưởng ông khách nào, hóa ra có nhõn "ông nhà mình". Hoàng Vĩnh Giang vẫn cứ thao thao tán cô chủ hàng bằng ngôn ngữ bản xứ Quảng Đông của cô ta. Tôi thấy gương mặt cô gái hồng lên như thoa phấn. Cô vội cúi xuống giấu nụ cười e lệ.

Tôi viết những dòng này trong thời điểm toàn ngành Thể thao đang gấp rút chuẩn bị tham dự SEA Games 24 diễn ra tại Thái Lan. Chín kỳ SEA Games với tổng tố 1.031 huy chương các loại, trong đó có 341 Huy chương Vàng,  309 Bạc và 381 Huy chương Đồng.

Rõ ràng đó là những con số biết nói. Việt Nam từ một quốc gia chẳng tên tuổi gì trên đấu trường thể thao khu vực, qua 9 kỳ SEA Games bỗng trở thành đối thủ đáng gờm của những quốc gia tên tuổi về thể thao khu vực Đông Nam châu lục.

Thành tích ấy, trước hết thuộc về công sức, sự nỗ lực của toàn ngành Thể thao; có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự cổ vũ hết mình của toàn dân. Song, tôi trộm nghĩ, chắc chắn còn có vai trò của nhiều cá nhân trong giới lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy mà Hoàng Vĩnh Giang là một điển hình.

Nó kết tinh từ sự mê say nghề nghiệp, tự tin và ý chí vươn lên vì màu cờ sắc áo

.
.
.