Hai đạo diễn Thế Lữ và Trịnh Quang Khanh: Là thầy tôi, anh tôi
Thế Lữ và những lời dạy
Lúc rỗi trò chuyện biết tôi cũng ham hố chuyện kịch cọt nên thầy Đức bảo để bố thầy giới thiệu tôi với bác Thế Lữ. Tưởng chuyện đùa, ai dè nửa tháng sau (nếu tôi nhớ không nhầm thì khoảng tháng 8, tháng 9 năm 1976, 1977), thầy Đức đưa cho tôi lá thư của ông bố giới thiệu tôi với Thế Lữ. Cầm phong bì có dòng chữ đẹp, ngay ngắn viết bằng bút mực tím, tôi vừa e ngại vừa sung sướng...
Vào một buổi lưng lửng sáng, tôi rời cơ quan hồi hộp đạp xe đến nhà bác Thế Lữ ở số 9 Nguyễn Bỉnh Khiêm, mà sau này tôi biết đó là khu tập thể của giới nghệ sĩ sân khấu. Đó là một biệt thự cổ xây từ thời Pháp. Mảnh sân dài trước nhà rợp bóng cây. Bác Thế Lữ ở trong một căn phòng phải qua một dãy bậc. Khi tôi bước vào nhà, một khuôn viên bày biện theo lối cổ, thần tượng của tôi là một ông già dáng phong sương có khuôn mặt dài, hai má hơi tóp đang ngồi trên giường. Sau khi nghe tiếng bác nói chen tiếng ho, tôi nhận ra sức khỏe của nhà thơ, kịch tác gia hơi trục trặc.
Bác vừa ra hiệu bảo tôi ngồi cạnh, bác vừa chỉ tay về phía người phụ nữ khuôn mặt đôn hậu có dáng đi hơi khập khiễng, bảo: "Đây là bác gái Song Kim". Rồi liền sau đó nhà thơ nói luôn: "Hôm nọ ông bạn của tôi có ra đây đã giới thiệu cậu rồi, nên thư đọc sau cũng được. Cậu học Tổng hợp Văn hả? Thế là có cái nền để sáng tác rồi đấy. Hôm nay có mang vở nào ra không ?"."Dạ có". "Thế cứ đưa cho tôi đọc. Độ năm ngày nữa. À thôi. Một tuần chẵn đi cậu trở lại". Lúc ở cơ quan và trên đường đến tôi dự định nói rất nhiều nhưng khi đối mặt với tác giả "Nhớ rừng" lừng lẫy thì tôi chỉ im lặng và đáp lại lời bác từng tiếng một, nhất là khi thấy bác Song Kim tỏ ra lo lắng cho sức khỏe của chồng khi tiếp chuyện tôi.
Một tuần sau, tôi lại đến nhà bác Thế Lữ, lần này tôi có vẻ phấn chấn và tự tin hơn khi trong tay tôi có bản thảo vở kịch dài "Khi cánh đồng trở lại màu xanh lúa" (vở này sau được in trong tập kịch trùng tên của NXB SK vừa phát hành đầu năm 2010) vừa hoàn thành với cảm hứng từ bài thơ của Nguyễn Đình Thi viết sau khi miền Nam giải phóng.
Vừa nhìn thấy tôi, bác Thế Lữ nói ngay: "Bản thảo mới hả? Thế là tốt. Các cậu đang trẻ, suy nghĩ cũng như sức khỏe đang dồi dào, cứ viết mạnh bạo, viết rồi sẽ đạt được điều mình muốn". Rồi dường như không muốn mất thời gian, bác nói ngay: "Tôi đọc ba lần bản thảo kịch ngắn này. Điều đầu tiên tôi thấy đề tài trong "Những hạt bụi của đời" là hấp dẫn. Ngôn ngữ của đám trẻ bụi đời Sài Gòn khá nhuyễn. Chắc cậu bỏ công thâm nhập nhiều. Thế là đúng. Viết văn, viết kịch cần như thế lắm.
Nhưng tôi nhận ra là vì quá mê cái mảng hiện thực này nên cậu sao chép hơi kỹ mà quên yếu tố hư cấu, sắp xếp để tạo ra hành động kịch. Sân khấu tuy dựa trên ngôn ngữ đối thoại là chủ yếu nhưng xương sống của vở lại là hành động. Vở ngắn hay vở dài đều cần như vậy. Dù sao, tôi cũng nhận ra khuynh hướng viết kịch của cậu. Cái mới ngắn hay dài?". "Dạ, thưa bác dài ạ. Bốn màn, chín cảnh". "Đầu đề?". "Dạ cháu đặt là "Khi cánh đồng trở lại màu xanh lúa" ạ". "Cái đầu đề hấp dẫn đấy. Để tôi xem. Cái này dài thì để nửa tháng nữa cậu đến đây". Đối với tôi trong mười lăm ngày của thời hạn kịch tác gia, nhà thơ Thế Lữ hẹn gặp lại quả là quãng thời gian phấp phỏng với đủ sự phỏng đoán, lo âu, khấp khởi và lo lắng.
Cuối cùng ngày đó cũng đến. Hôm đó tôi còn nhớ chỉ nhìn hình thức bề ngoài thôi đã thấy nhà thơ Thế Lữ có vẻ khỏe, vui và linh hoạt hơn. Vẻ mặt của bác Song Kim cũng mất đi những nét lo âu, buồn phiền. Vừa nhìn thấy tôi, bác Thế Lữ nói ngay: "Được lắm, được lắm! Uống nước đi đã. Bác gái vừa pha xong. Có ông bạn vừa biếu gói Hồng Đào. Thấy bảo ngon lắm". "Dạ, hồi cháu cưới, cháu cũng mua được 50 gói Hồng Đào". "Cậu làm báo à? Thế cũng tốt rồi. Còn vở này tôi mừng vì mới viết mà tôi thấy cậu bắt đầu định hình được tính cách và đẩy được sự phát triển xung đột của nó. Điểm nữa, tôi rất mừng vì nhận thấy ngôn ngữ của cậu tỏ ra phù hợp với thoại của kịch. Đấy là điểm mạnh cần phát huy. Trong kịch chỉ cần bằng ngôn ngữ thôi, người ta đã tả được không khí, không gian, môi trường nhân vật hoạt động. Một đôi chỗ tôi cũng thấy cậu đã biết sử dụng thủ pháp. Thế là tiến bộ so với vở ngắn trước. Chỉ có điều cậu là dân Bắc, từ bé đến lớn toàn sống ở hoàn cảnh khác các nhân vật mà cậu mô tả nên cậu nắm chưa chắc, chưa hiểu chiều sâu của nội tâm họ nên mâu thuẫn vì thế chưa tới cao trào. Nhưng với vở này, tôi rất mừng. Đọc vở tôi thấy: một là, cậu rất yêu kịch; hai là, cậu bắt đầu hiểu được nghệ thuật viết kịch… Các vấn đề cậu nêu ra đều là vấn đề văn chương và kịch cần phản ánh. Đó chính là phản xạ của người cầm bút "…
Ngừng một lát, bác Thế Lữ nói với tôi một câu mà có lẽ tôi không bao giờ quên với sự động viên của bác rằng: "Hãy cố gắng viết đi. Viết xong đưa cho bác. Thấy được, bác bảo Nghi (NSND Nguyễn Đình Nghi, con trai cả của bác Thế Lữ) dựng cho cháu". Tiếc rằng sau đó do nhiều lý do nên bẵng đi một thời gian, tôi không có dịp đến với bác. Vào cuối năm 1979 khi tôi dập dạp xong vở về Tô Thị mang đến thì bác Thế Lữ đã vào TP HCM. Hình như khí hậu trong đó giúp sức khỏe của bác đỡ hơn. Thế là bác cháu tôi đành xa nhau. Còn tôi thì bỏ qua một dịp được vị đại sư của nền sân khấu Việt
18 năm sau tác giả mới gặp đạo diễn vở nhưng vẫn chưa xem kịch của mình
Những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ trước là quãng thời gian mặc dù tiểu thuyết và các tập truyện ngắn in dàn dạt nhưng niềm hứng khởi về kịch của tôi lại thức dậy mãnh liệt. Nhất là sau khi tôi di dự trại sáng tác kịch bản của Quân đội năm 1989 và sự ra đi của nhà viết kịch tài ba Lưu Quang Vũ. Dạo đó tôi lết hết đoàn kịch này sang đoàn kịch khác. Làm quen, tiếp xúc, đến nhà khá nhiều các đại nhân trong giới sân khấu từ Trọng Khôi, Hoàng Quân Tạo, Hà Nhân, Phạm Thị Thành, Lê Chức, Tú Mai, Tất Đạt, Xuân Huyền, Dương Ngọc Đức…
Nhưng không hiểu vì lý gì ngoại trừ kịch bản "Bốn trái tim đau" được Lê Chức vừa từ Moskva về dựng trên sàn diễn, còn hơn chục vở khác vẫn nằm im. Đột nhiên trong một lần đang buồn phiền thì họa sĩ kiêm nghệ sĩ Doãn Châu thông báo sửa soạn xuống Nam Định để duyệt vở của tôi do Đoàn Kịch nói Hà Nam Ninh dựng. Sau thông báo ông còn nói luôn: "Đạo diễn vở này là Trịnh Quang Khanh, Giám đốc Sở Văn hóa Hà Nam Ninh". Tôi còn nhớ lần đó có cả đạo diễn Phạm Thị Thành cùng xuống, nhưng không hiểu vì sao, buổi duyệt tối đó lại hoãn. Sáng hôm sau vì có việc bận trên cơ quan nên tôi xin phép về trước, rồi mặc dù rất để ý đến sự kiện lớn đối với tôi về vở kịch của mình nhưng do sự bận rộn của công tác phóng viên nên tôi quên bẵng đi.
Gần hai tháng sau, họa sĩ Doãn Châu cùng vợ là nghệ sĩ Bích Thu leo lên nhà tôi tận gác 5 đưa cho tôi hai triệu tiền nhuận bút tác giả và cả hai ông bà cho biết vở diễn ăn khách lắm. Đã diễn liên tục từ khi ra lò đến nay. Tôi vui lắm. Giở bản thảo vở ra đọc.
Nhận ra với cốt truyện về sự hoàn nguyên của anh chàng đào vàng cùng sự sự zích zắc của những chi tiết hành động đầy chất thảo khấu thì vở "Hơn cả vàng mười" hút được khách có cái lý của nó. Tôi hơi chạnh lòng khi nghe tin đạo diễn Trịnh Quang Khanh đã lấy một cái tên đầy chất cải lương là "Oan trái tình đời " để thay tên nguyên thủy. Rồi không hiểu vì sao xung quanh đạo diễn vở của tôi có nhiều dư luận về sự nghiệt ngã của ông Trịnh Quang Khanh, thành ra phần vì bận công tác, phần vì do tác động của những dư luận ác cảm đó, tôi gần như quên bẵng đứa con tinh thần của mình đang lưu lạc nơi thành Nam. Gần hai mươi năm trời mặc dù chưa biết mặt đạo diễn Trịnh Quang Khanh nhưng tôi vẫn chưa gạt hết được ấn tượng không mấy thiện cảm về ông…
Cho đến cuối năm 2009 vừa qua nhân chuyến thực tế về thành phố
Khi tác giả Ngọc Thụ, Chi hội trưởng Chi hội Tác giả sân khấu phía Bắc trưởng đoàn, vừa giới thiệu đến Trịnh Quang Khanh thì tôi đã lại gần ông. Trước mắt tôi là một người đàn ông cao dong dỏng nho nhã, lịch sự và chỉ mới nghe vài câu ông nói tôi đã có cảm tình và ngày hôm sau khi ông tự đảm nhận vai trò hướng dẫn viên cho đoàn khi đi thăm chùa Bà Đanh, Phủ Giầy, nhà và mộ nhà thơ Nguyễn Bính… sự cảm tình với bậc đàn anh càng tăng lên.
Trong cảm nhận của tôi, Trịnh Quang Khanh trước hết là một người đôn hậu, hiền lành. Hơn nữa, ông là một học giả thâm hậu có vốn kiến thức rộng lớn về lịch sử và văn hóa quê hương. Chính sự uyên bác, thâm hậu và có tâm đó nên khi ông làm Giám đốc Sở Văn hóa, ông đã có công rất lớn duy trì không ít các di tích văn hóa, lịch sử của thành Nam cũng như bảo vệ nhiều di sản phi vật thể của mảnh đất có nhiều lớp, tầng và danh nhân văn hóa này.
Cũng chính vì sự uyên bác và am hiểu nghệ thuật như vậy nên bên cạnh công việc quản lý (Trịnh Quang Khanh là Giám đốc Sở Văn hóa, Giám đốc Đài PT và TH tỉnh, hai khóa Tỉnh ủy viên) với chuyên môn của một cử nhân văn hóa tốt nghiệp tại Liên Xô cũ, ông còn đạo diễn và sáng tác hàng vài chục vở ngắn, dài đoạt nhiều huy chương các loại tại các hội diễn vùng và toàn quốc. Đó là chưa kể hàng chục tác phẩm đã in của ông gồm đủ thể loại như khảo cứu danh nhân, tiểu luận văn hóa, văn nghệ ở một vùng quê và thơ đã nói khá đủ diện mạo hoạt động văn hóa của ông. Tập thơ "Biển thức" NXB Hội Nhà văn phát hành với những câu thơ "...Và quê ta/ Vẫn rửa chậu thau đồng/ Nước giếng trong/ Soi rõ mặt riêng mình" thêm một lần bộc lộ phẩm chất của tâm hồn người đàn ông tuổi Tị này.
Khi biết tôi là tác giả "Hơn cả vàng mười (Oan trái tình đời) ông trách tôi về sự thờ ơ với đứa con tinh thần của mình. Ông bảo: "Trong các tác giả anh dựng, chú là người số một không quan tâm đến con đẻ của mình". Tôi không giấu giếm ông khi kể lại những dư luận thiếu thiện cảm về ông.
Với nụ cười hiền hậu, bậc đàn anh rủ rỉ: "Anh đang làm Giám đốc Sở Văn hóa, mê nghề quá nên tranh thủ làm đạo diễn, rồi bằng mọi cách cố giữ lại những di sản của cha ông, trong khi nhiều người vì nhiều lý do phản đối nên họ có dư luận nọ kia cũng đúng thôi. Còn cái đầu đề vở của chú, theo anh, hơi cao siêu. Còn của anh lại hơi nọ kia nhưng kích thích được khán giả. Tiếc là chú không gặp anh sớm để bàn bạc. Biết đâu anh với chú chả cộng tác tiếp. Kịch của chú dựng khó nhưng hiểu nó thì khi dựng cũng nhiều cái thú, tạo ra sự kích thích lắm. Này thông báo để chú mừng, vở ấy đã từng đoạt huy chương vàng tại Hội diễn vùng Duyên hải đấy".
Thế là tôi tự đính chính được những điều tôi bị dư luận làm hiểu sai về một đàn anh trong nghề. Điều áy náy về người đạo diễn chân tình, về một cán bộ lãnh đạo văn hóa uyên bác đã được hóa giải. Trong tôi giờ chỉ còn điều băn khoăn duy nhất: Đó là vở diễn theo kịch bản của mình thời sung sức đã diễn vài trăm đêm rồi mà tôi vẫn chưa bao giờ được xem, được nhìn đứa con tinh thần của mình dưới ánh đèn sân khấu có diện mạo ra sao?