GS-TS Trần Quán Anh: Làm khoa học phải trung thực

Thứ Ba, 13/12/2011, 15:57
Ông hẹn tôi tới phòng khám của Bệnh viện Tâm Anh do ông làm Giám đốc trên “phố Nhà binh”. Đó là một phòng khám Nam học với rất nhiều chức năng, lúc nào cũng đông nghịt khách. Mặc dù là người hầu như không có định kiến gì và cũng rất ít bị mặc cảm cá nhân nhưng nói thực là tôi cũng hơi ngại nếu có người quen nào nhìn thấy tôi bước chân vào phòng khám đó, chỉ sợ họ nghĩ này nọ về chức năng đàn ông của mình (!).

Có lẽ cũng lờ mờ đoán được nỗi e ngại của tôi, GS-TS Trần Quán Anh, Chủ tịch Hội Y học giới tính Việt Nam, đã rủ tôi ra quán cà phê gần phòng khám để trò chuyện. Câu chuyện giữa chúng tôi không về công việc rất quan trọng mà GS-TS Trần Quán Anh đang làm hiện nay mà lại về quá khứ.

Phụ tình để chung tình

- Hồng Thanh Quang: Nói thật là tôi đã biết GS từ lâu lắm rồi, từ lúc tôi còn bé tí, sống ở trên phố Hàng Đào và rất mê kịch với phim. Và tôi đã xem đi xem lại không biết bao nhiêu lần vở “Tiền tuyến gọi” mà GS là người viết kịch bản. Tôi cũng đặc biệt mê các diễn viên trong bộ phim cùng tên do đạo diễn Phan Kỳ Nam chuyển thể theo kịch bản của GS, đặc biệt là chị Thanh Tú. Người đâu mà xinh ơi là xinh!

- GS Trần Quán Anh: Đúng rồi, Thanh Tú hồi ấy đẹp lắm! Rất Hà Nội!

- Và trong phim “Tiền tuyến gọi” còn có bác Tuấn Tú nữa, tôi cũng rất thích, đúng phong cách một trí thức Hà Nội cổ. Bác ấy hình như đã mất rồi… Và tôi phải nói thật, hôm nay mới gặp GS, tôi cũng có cảm giác trông ông có nét gì đó phảng phất giống vị GS mà bác Tuấn Tú đã đóng trong phim “Tiền tuyến gọi”.

- Kịch bản Tiền tuyến gọi là tôi viết về nghề của tôi, về những người đồng nghiệp ở quanh tôi mà…

- Tôi biết rằng ở thời điểm đó, không nhiều kịch bản giành được thành công như “Tiền tuyến gọi”. Vậy tại sao sau này ông lại không đi theo con đường kịch nghệ, mà vẫn tiếp tục chung thủy với nghề y? Sao ông lại không nghe theo lời khuyên có lẽ là rất chân tình của những bậc đàn anh lỗi lạc như Thế Lữ và Lưu Trọng Lư?

- Điều này tôi có thể nói ngay với Hồng Thanh Quang là thế này. Đầu tiên, tôi viết kịch là vì mình rất yêu nghề y. Tôi viết Tiền tuyến gọi trước và sau đó, cũng có một số vở ngắn dài khác, đều tập trung cho ngành y. Mình rất yêu nghề y và Tiền tuyến gọi thể hiện tình yêu đó của mình và nó đã thành công.  Và ở giai đoạn đó, đồng chí Tố Hữu, người phụ trách công tác văn học nghệ thuật của Đảng, đưa ra chủ trương, những người làm trong một ngành nghề nào đó nếu có năng khiếu sáng tác thì chuyển hẳn người ta sang bên văn học nghệ thuật để viết về nghề đó.

- Để người sáng tác đỡ mất công thêm một lần thâm nhập thực tế…

- Cho nên ngày ấy tôi nhớ, trong nghề y thì có Vũ Quần Phương…

- Nhà thơ…

- Anh ấy học nghề bác sĩ nhưng lại trở thành nhà thơ. Sang Hội Nghệ sĩ sân khấu, tôi biết cũng có hai bạn vốn là kỹ sư. Khi đồng chí Tố Hữu có đặt vấn đề với tôi thì đúng dịp anh Thế Lữ là Chủ tịch Hội, anh Lưu Trọng Lư là Tổng Thư ký Hội nghệ sĩ sân khấu.

- Hai trưởng lão…

- Đúng là hai trưởng lão. Quen mồm nên mình cứ gọi hai cụ là anh (cười).

- Vâng, các bác đều là những người thiên cổ rồi…

- Đều là những người thiên cổ rồi… Đúng dịp đó, các bác ấy lại nắm những vị trí chủ chốt và cũng có lời mời tôi sang. Nhưng khi ấy, tôi lại có suy nghĩ thế này: tôi viết kịch chỉ vì tôi yêu nghề y và “tức” cho nghề y. Tôi nhớ, có lần tôi đã nói với anh Lộng Chương, anh Nguyễn Bắc (lãnh đạo Đoàn Kịch Hà Nội khi đó - HTQ). Tôi bảo, tại sao ngành y đóng góp rất nhiều cho tiền tuyến và tôi là người chứng kiến những công việc giữa cái sống và cái chết của từng cán bộ ngành y, mà các anh chả tuyên truyền cho nó cả. Thậm chí đến cô mậu dịch ngày ấy mang bánh kẹo, nước uống đến ụ pháo mà các anh còn tuyên truyền…

- Còn ca ngợi…

- Sao ngành y thì các anh bỏ quên?! Thế thì các anh ấy mới bảo, tại sao ông không viết đi, ông có vốn sống và lòng tâm huyết đấy, sao ông không viết đi? Thế thì tôi mới viết. Chính vì tôi rất yêu ngành y mà tôi viết, nên bây giờ chẳng nhẽ tôi lại bỏ ngành y hay sao?

- Không thể cùng một lúc cưới hai người phụ nữ làm vợ, dù ta rất yêu cả hai người (cười)…

- (Cũng cười): Nói thế chứ tôi cũng rất yêu văn học, yêu sân khấu. Nhưng lúc bấy giờ tôi nghĩ thế này, hai nghề đều đòi hỏi phải có một sự tập trung tinh thần và trí tuệ, và sức lực rất cao thì mới làm nên chuyện được. Làm cả hai việc cùng một lúc thì mình không thể nào đủ sức, còn nếu làm phất phơ mỗi thứ một tí thì mình lại chẳng đạt thành công gì cả. Bởi vậy, tôi mới quyết định, thôi, cảm ơn anh Tố Hữu, cảm ơn các anh Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, em ở lại với nghề y thôi…

- Không mảy may luyến tiếc?

- Sao lại không? Nói thật với Hồng Thanh Quang, bỏ văn học thì mình cũng day dứt lắm. Tôi đã phải cố gắng đến mức trốn tránh tất cả, trốn tránh tất cả buổi đi xem, mà trước đó tôi rất thích đi xem…

- Thích giao du với bạn bè văn nghệ…

- Tôi đã từng rất thích la cà, ngồi ở cánh gà sân khấu rồi xem người ta diễn, hoặc vở của mình, hoặc vở của người khác. Rồi tâm tình với diễn viên. Thế nhưng, khi quyết định ở lại với nghề y thì tôi  đã phải trốn, không dám đi xem kịch, mà trước đó thì đấy là thứ tôi thú nhất.

- Cũng là mê lắm đấy!

- Mê lắm. Nhưng phải dứt đi, đứt đoạn đi, như thể phải cai nghiện, cai cái bệnh mê sân khấu! Bảo là luyến tiếc hay không thì nói thực là tôi không luyến tiếc  vì cứ đeo đẳng thì không thể trọn vẹn với nghề y được. Nhưng mình cũng xót cho cái đam mê sân khấu mà mình phải từ bỏ.

- Tự nguyện từ bỏ…

- Tự nguyện.

- Đôi khi những đứa con mà ta không bao giờ sinh ra được, lại là thứ mà ta xót nhất. Ông nhà thơ Xô viết Andrei Voznhesenski từng viết rất xót xa về chuyện này trong bài thơ dài “Khóc hai bản trường ca không được sinh ra”. Có bao giờ GS cảm thấy tiếc cho những kịch bản mà có thể đã rất hay nhưng đã không được sinh ra vì tình yêu của GS dành trọn vẹn cho y học?

- Tôi thú thực với Hồng Thanh Quang là sau Tiền tuyến gọi, tôi còn viết vở Đi trong cơn lốc, nhưng vở này thì nó cũng thường thôi. Tôi cũng tự xác định là nó cũng thường thôi. Và về sau, nó được chuyển thể sang cải lương cho Đoàn Kim Phụng diễn… Nhưng tác phẩm mà tôi ấp ủ là vở Đường chúng ta đi.

- Nghe tên giống như tên bài hát của nhạc sĩ Huy Du phổ thơ Xuân Sách…

- Các vở tôi viết thường được đặt tên một cách chẻ hoe như nội dung của chúng. Tiền tuyến gọi là tiền tuyến gọi…

- “Đi trong cơn lốc” là đi trong cơn lốc, “Đường chúng ta đi” là đường chúng ta đi (cười).

- Tôi để tên Đường chúng ta đi, tức là đường chúng ta đi phải như thế. Vở ấy tôi viết xong bản thảo rồi, một số anh em đọc đã khen rồi, khen là nó đi đúng thực tế lúc bấy giờ.

- Đấy là năm nào ạ?

- Đấy là thời điểm sau năm 1975. Ở thời điểm đó, nếu Hồng Thanh Quang còn nhớ thì cũng có một số e ngại, thí dụ như khi anh Xuân Trình với một số kịch bản đã bị coi là quá đà…

- Đi trước thời đại, cầm đèn chạy trước ô tô…

- Đi trước thời đại… Một số anh cũng e ngại rằng Đường chúng ta đi của tôi  phản ánh thực tế mạnh bạo quá. Nhân vật chính trong đó là một giám đốc bệnh viện, một nhân vật phản diện, trù úm anh bác sĩ dưới quyền… Tình tiết đó làm cho một số anh em hơi lấn cấn. Đấy lúc bấy giờ, chứ hiện nay thì chuyện này quá bình thường.

- Là “chuyện bình thường ở huyện”...

- Trong kịch còn có chuyện người vợ bỏ anh bác sĩ này để sang cặp với anh giám đốc bệnh viện… Những chuyện như vậy ở thời điểm đó bị coi là rắc rối quá,  người ta không chấp nhận được.

- Lúc ấy người ta thích những quan hệ đơn giản một chiều hơn…

- Một số anh đã khuyên tôi không nên đưa kịch bản này lên dựng. Để tránh những rắc rối có thể xảy ra, nhất là đối với một người không làm nghệ thuật chuyên như tôi… Họ bảo, hãy nhìn gương Xuân Trình, đừng có dại… Và tôi nghe theo.

- Nếu vở  “Đường chúng ta đi” của GS được công diễn lúc đó thì có khi lại có tác dụng đối với sự phát triển của xã hội.

- Có khi thế.

- Có lẽ bởi anh đã xác định mình không là người làm nghệ thuật một cách chuyên nghiệp nên anh không quá đau đớn khi đứa con tinh thần của mình không được ra mắt công chúng như nó xứng đáng…

- Tôi thì tôi phải cai nghiện sân khấu! Nên khi được mời đi xem là tôi cứ phải trốn. Anh Nguyễn Đình Nghi đã mời tôi đi xem Rừng trúc, tôi cũng không đi… Tôi sợ tôi đi, gặp anh em, họ hỏi tại sao lại không viết thì lỡ đâu mình lại nổi hứng lên… Cứ thế, dần dà cũng nguôi ngoai được nỗi khát thèm ánh đèn sàn diễn…

- GS rất chung tình với y học nhưng lại “phụ tình” nghệ thuật sân khấu.

- Đúng là phụ tình đấy!

- Và bây giờ, dù lòng có thể thanh thản đấy nhưng đôi khi cũng có một sự nuối tiếc nào đó…

- Có thể…--PageBreak--

Gương sáng từ thầy

- Thưa GS, tôi vẫn nghĩ là, ở thế hệ nào, ở giai đoạn nào thì cũng có những người rất xuất sắc, nhưng thật ra cần một khoảng thời gian nhất định trôi qua thì chúng ta mới nhận thức được ai đã là vĩ nhân từng ở cạnh bên ta. Thói đời thường là vậy. Với chúng tôi bây giờ chẳng hạn, chúng tôi thấy thời mình đang sống nó cũng bình thường thôi, phần đông đều bình thường thôi. Và chúng tôi chủ yếu nhìn thấy những nhân vật xuất sắc ở những thế hệ trước. Trong thời trẻ của GS, bây giờ nhìn lại, ông có nhận thấy những nhân vật xuất sắc đã từng làm thầy dạy mình không? Ông thấy những ai đã  có ảnh hưởng sâu sắc đến ông  trong những sự phát triển sau này?

- Tôi tự nhận tôi là người gặp may trong số phận, là bởi vì tôi được rèn luyện ở hai môi trường liên tiếp có truyền thống và có tác động đến suy tư, ý tưởng. Thời nhỏ, tất nhiên tôi học nhiều trường ở Hà Nội, nhưng cuối cùng tôi đã được học cấp ba tại Trường Lương Ngọc Quyến ở Thái Nguyên…

- Ở Thái Nguyên?

- Chuyện là thế này, bố mẹ tôi đi theo kháng chiến nhưng hồi bé, do bị ốm nên tôi đã phải ở lại trong thành với họ hàng. Lớn lên một chút, khỏe lại rồi, tôi mới được cha mẹ mình đón lên Việt Bắc. Và tôi đã được học những năm cuối cấp trung học ở Trường Lương Ngọc Quyến ở Thái Nguyên.

- Một trường học tập trung nhiều tinh hoa hồi đó…

- Lúc ấy là đoạn đời mình biết suy nghĩ, có xác định lý tưởng, đôi khi lý tưởng nó cũng hơi cực đoan, ấu trĩ, nhưng mà mình sống có mục đích. Rồi sau này, tôi được vào học ở Đại học Y Hà Nội. Đây cũng là một học đường có truyền thống. Rất may cho tôi là, những ông thầy ở đây đều là những người có lòng yêu nước rất cao độ, kể cả những ông thầy từng nằm ở trong vùng tạm chiếm…

- Nếu tôi nhớ không nhầm, họ đã được gọi là công chức lưu dung khi về với chính quyền mới…

- Công chức lưu dung… Những ông thầy đi theo kháng chiến về trường dạy cũng đều là những người rất yêu nước.

- Yêu con người, làm nghề y mà không yêu con người thì không thể giỏi được…

- Lúc ấy giáo dục lý tưởng ở Trường Y nó cũng như ở các trường đại học khác, như Tổng hợp, Nông lâm,  Bách Khoa, Sư phạm… Việc giáo dục lý tưởng vẫn được tiếp tục như ở bậc phổ thông thời kháng chiến. Nhưng chúng tôi đã được học rất nhiều điều từ chính các ông thầy yêu nước.

- GS có thể ví dụ cụ thể hơn chăng…

- Tôi ví dụ nhé. Đó là những người thầy ở ngoài kháng chiến về, như cụ Hồ Đắc Di, ông Tôn Thất Tùng, ông Nguyễn Trinh Cơ. Đó là 3 ông thầy dạy tôi trực tiếp thì những ông ấy ở kháng chiến, cả nước đều biết, lừng lẫy rồi.

- Cụ Hồ Đắc Di và bác Tôn Thất Tùng thì hình như ai cũng biết nhiều.  Nhưng có lẽ không nhiều người biết là GS Nguyễn Trinh Cơ là tác giả truyện “Em Ngọc”, từng được in  trong “Tuyển tập Văn thơ Cách mạng và kháng chiến” và về sau được đưa vào “Tuyển tập Văn lớp 5” cho nhiều thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam học tập trong giai đoạn 1955-1975.

- Đúng thế. Đó là những ông thầy mang tinh thần thời kháng chiến về Hà Nội. Nhưng những ông thầy lưu dung cũng là những ông thầy rất có lòng yêu nước, như ông Đặng Văn Chung ở Nội Khoa, cụ Vũ Công Hòe… Họ là những giáo sư vì một lý do nào đó đã không lên chiến khu được nhưng ở trong vùng tạm chiếm vẫn tìm cách ủng hộ kháng chiến… Rồi như ông  Đặng Văn Ngữ từ Nhật về là lên Việt Bắc…

- Chứ không vào thành.

- Không vào thành. Các ông ấy có thể quan điểm chính trị không hẳn đã đồng nhất nhưng đều rất yêu Tổ quốc.

- Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, cái đó là chắc chắn.

- Họ là những người dứt khoát không bi quan, dứt khoát chịu đựng gian khổ để làm nghề.

- Tôi biết là GS tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội năm 1961. Và đã công tác ở đó ngót nửa thế kỷ rồi mới về hưu. Trong giai đoạn đó, chắc GS đã được làm việc với nhiều thầy hiệu trưởng của trường nhỉ?

- Tôi đã kinh qua nhiều đời hiệu trưởng lắm. Trước tiên là cụ Hồ Đắc Di, ông thầy đầu tiên của tôi. Sau cụ Hồ Đắc Di là ông Nguyễn Trinh Cơ, cũng là ông thầy, thuộc thế hệ tham gia kháng chiến chống Pháp.

- Từ thời Pháp thuộc còn lại…

- Sau đến ông Hoàng Đình Cầu cũng là ông thầy.

- Về sau là Thứ trưởng Bộ Y tế.

- Đúng thế. 3 ông ấy là 3 cựu trào của  thế hệ tham gia kháng chiến chống Pháp. Rồi đến anh Nguyễn Năng An cùng thế hệ chúng tôi.

- Anh Nguyễn Năng An nổi tiếng nhiều với cuốn “Từ điển Nga Việt” mà tôi cũng đã phải nhờ cậy rất nhiều khi mới học tiếng Nga.

- Sau đến anh Nguyễn Thụ là vị hiệu trưởng thứ năm. Sau anh Nguyễn Thụ là Tôn Thất Bách.

- Tôi cũng từng có giai đoạn được tiếp xúc với anh Tôn Thất Bách.

- Bách thuộc lứa học trò thứ hai của mình. Rồi vị hiệu trưởng thứ bảy là Nguyễn Lân Việt. Và bây giờ là Nguyễn Đức Hinh.

- Nguyên Phó giám đốc Bệnh viện C… cũng là người tôi được hân hạnh quen biết…

- Tôi bây giờ vẫn làm việc ở Trường Y, với tư cách giảng viên cao cấp. Tính đến nay, tôi đã ở đó với 8 đời hiệu trưởng.

- Những ai trong số họ đã gây ấn tượng mạnh đối với GS?

- Đúng là tôi đã chịu ảnh hưởng quá nhiều bởi các ông thầy. Ví dụ cụ Hồ Đắc Di chẳng hạn, tinh thần yêu nước của cụ phải nói là tuyệt vời. Cụ cũng là người rất hóm và cụ rất hay chơi chữ. Cụ không phải đảng viên nên dù là hiệu trưởng nhưng vẫn không có toàn quyền quyết định mọi việc ở trường. Thế nên, một lần, khi cụ tham gia một cuộc họp và được giới thiệu là đại diện của chính quyền, thì cụ đã cười và nói rằng, chính quyền nhưng mà không có quyền chính đâu nhé. Thế là tất cả đều cười vui vẻ…

- Đó là cơ chế của một thời, cũng là cần thiết dẫu không hẳn là toàn vẹn… Trong công việc của mình, tôi từng có dịp tiếp xúc với một số người trong thế hệ như cụ Hồ Đắc Di và cũng có hoàn cảnh tương tự. Đại đa số họ đều chấp nhận những chuyện như thế như một sự tất yếu và biết cách sử dụng trí tuệ anh minh hóm hỉnh của mình để vui sống…

- Câu ấy bây giờ nói thì chả sao, nhưng ngày ấy cũng là bạo miệng lắm đấy. Nhưng với cụ Hồ Đắc Di thì là như thế. Cụ nói rất thẳng, chứ không phải nói uốn… Ngày ấy, đối với thế hệ chúng tôi thì cái gì của Liên Xô cũng là nhất.

- Như nhà thơ Việt Phương đã viết, “Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ,/ Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào./ Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ, /Sự ngây thơ đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao…”.

- Nhưng trong các bài giảng, có lúc cụ Hồ Đắc Di có nói, trong vấn đề này hay vấn đề kia thì Liên Xô không phải là giỏi nhất, hoặc có cái này thì Liên Xô không được… Cụ đã có thái độ rất kiên quyết khi một số người ở trường chủ trương học theo chương trình của Liên Xô, nghĩa là học 4 năm thôi, tốt nghiệp là y sĩ cao cấp thôi, rồi sau khi đi ra công tác một thời gian về mới học tiếp lên bác sĩ. Cụ Di bảo, thế không được, như thế sẽ trở thành một cái anh mù không ra mù, chột không ra chột… Cần phải biết rằng, ngày ấy mà phản ứng không học theo chuơng trình của Liên Xô là “phạm húy” ghê gớm lắm.

- Nhưng cụ Hồ Đắc Di vẫn bảo vệ được ý kiến của cụ, đúng không ạ?

- Trường Y vẫn học 6 năm… Hay có những giáo sư khác. Tôi nói ví dụ như ông Đặng Văn Ngữ, ngày đó ông ấy giảng về sinh vật. Ngày đó có thời kỳ mình vẫn bảo là, Michurin là nhất…

- Nhà chọn giống cây ăn quả người Nga, Michurin một thời đã được độc tôn trong nền sinh học Xô viết, có rất nhiều đóng góp nhưng nếu coi ông là duy nhất đúng thì lợi bất cập hại vô cùng…

- Khi ấy mình cũng hùa theo học thuyết Lysenko chống lại Mendel.

- Tôi không phải là người có chuyên môn về sinh học hay thực vật học nhưng tôi cũng biết rằng, nhà thực vật học Lysenko cũng thuộc trường phái nông sinh học của Michurin và đã rất hung hăng loại bỏ những nhà nghiên cứu sinh học theo thuyết di truyền gien của  linh mục người Áo Mendel.

- Đúng thế. Nhưng khi giảng bài về thuyết di truyền của Mendel, ông Đặng Văn Ngữ vẫn nói rất công khai rằng, đấy, thuyết di truyền là như thế này, cho đến bây giờ hoàn toàn có giá trị mà ta lại gọi đây là thuyết phản động là không đúng, có chăng kẻ nào lợi dụng học thuyết này để làm công việc phản động thì ta phê phán, còn thuyết Mendel - Morgan là lý thuyết khoa học cho đến bây giờ vẫn có giá trị… Ngày đó dám nói ra câu ấy là to gan lắm.  Chúng tôi, những cậu sinh viên trẻ ngồi ở dưới, bảo, thầy dại quá, chết chết, tại sao thầy lại nói thế?!

- Nhưng nói cho cùng, cũng chả ai làm gì thầy được vì thầy uy tín lớn.

- Cũng có đấy, không phải không đâu. Tôi biết, cũng có người đặt vấn đề, cũng hạch sách, soi mói đấy, nhưng mọi chuyện rồi cũng ổn. Thầy đâu có sợ, vì đối với thầy, đã làm khoa học là phải trung thực… Thì đấy, những ông thầy như thế đã có ảnh hưởng rất lớn đến chúng tôi.

- Đó là những tấm gương bồi dưỡng nhân cách cho thế hệ sau.

- Bên cạnh lòng yêu nước…

- Là sự khí khái của kẻ sĩ!

- Khí khái kẻ sĩ là một. Và cái thứ hai là sự trung thực trong khoa học. Đó là hai cái mà tôi đã cố gắng học ở những người thầy của mình. Đã làm khoa học thì cái gì người ta đúng, mình phải nói là đúng; cái gì sai, mình phải nói là sai.

- Mà để trung thực lắm khi phải rất dũng cảm. Không dũng cảm không thể trung thực được.

- Chúng tôi hồi trẻ cũng nhát. Ngày ấy chúng tôi ngồi dưới giảng đường nghe thầy giảng, lại bảo, thầy dại quá, ngày ấy mình…

- Tức là người đứng dưới gốc cây cứ lo cho người trèo lên cây.

- Ngày ấy bọn mình mới là đoàn viên Đoàn Thanh niên lao động thôi, tức là mới ti toe…

- Theo đường tổ chức…

- Mới ti toe theo, chứ còn đã biết cái gì là lý tưởng đâu. Thì những người non nớt ấy lại cho rằng, thầy thế là dại quá. Và thương thầy…

- Nhưng đúng là thế hệ thầy nào thì có học trò ấy và nếu chất kẻ sĩ nó bị phai nhạt trong trí thức Việt Nam thì đấy mới là thảm họa thật của dân tộc.--PageBreak--

Gian nan thử sức

- Tôi biết GS là người đã tham gia rất nhiều chuyến đi vào chiến trường và đã từng có mặt ở Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa 1972. Bây giờ, ông có khi nào nằm mơ về miền đất đó không?

- Tôi làm việc ở Trường Y từ năm 1961.  Nhưng sau đó thì hầu như các chiến dịch nào lớn tôi đều được nhà trường cũng như Bộ Y tế cử đi. Có thể nói, tôi là một trong những người làm nghề y đi chiến trường nhiều nhất.

- Bao nhiêu lần tất cả, GS có thể tính được không?

- Nhiều lắm, nên anh em trong ngành vẫn nói đùa rằng, tôi “tuần chay nào cũng có nước mắt” (cười). Trong giai đoạn chiến tranh phá hoại ở miền Bắc thì tôi đã đi hết các địa phương, từ  Hàm Rồng Thanh Hóa đến Nghệ An, Hà Tĩnh, rồi ở Đèo Ngang, Quảng Bình, đâu cũng đi rồi. Đấy là ở miền Bắc. Còn đi B thì tôi đã vào chiến trường ở Quảng Trị mùa hè đỏ lửa năm 1972, suốt từ đầu chiến dịch cho đến sau khi ký Hiệp định Paris mới về.

- Và cũng may mắn lắm mới được quay trở lại, hồi ấy rất nhiều người làm ngành y đã nằm lại ở chiến trường.

- Chính tôi bây giờ, mỗi khi gặp lại những anh em cùng ở chiến trường dạo đó, câu đầu tiên bao giờ chúng tôi cũng nói rằng, không hiểu tại sao ngày ấy chúng mình không chết?! Bởi vì thế này, ngày ấy chết là chuyện hết sức bình thường. Trên chiến trường Quảng Trị ác liệt như thế, cái chết lắm khi nó  cứ như đùa…

- Thưa GS, tôi đôi khi cứ vẩn vơ nghĩ là, có cay đắng chăng khi mà để đào tạo nên những thế hệ tốt đẹp lại cần phải có quá nhiều sự hy sinh mất mát và gian khổ?! GS cảm nhận như thế nào? Có quá đau đớn không khi để có những thế hệ con người tốt đẹp thực ra lại phải cần gian khổ, hy sinh, mất mát, còn khi chúng ta sung sướng quá thì thường thường con người lại dễ bị tha hóa đi? Trong điều này có sự mâu thuẫn nào không?

- Tôi thì cảm nhận thấy rất rõ, đúng là như vậy. Tức là thế này, đầu tiên, anh phải xác định mục đích, lý tưởng để mà phấn đấu. Thế nên khi đọc chuyện về những anh như anh Lê Quang Vịnh, anh Lê Hồng Tư, thấy về vật chất thì họ cũng sung sướng lắm chứ, nhưng các cảnh tù đầy, tra tấn thì họ cũng chịu đựng được. Vì sao? Chính vì họ có lý tưởng!

Thế thì đấy, phải xác định có lý tưởng. Cái thứ hai là phải được rèn luyện, rèn giũa thì mới trưởng thành được, chứ nếu sống trong nhung lụa thì cũng khó lắm. Thế hệ bây giờ thì tôi chưa hiểu nhiều, nhưng những ngày ấy, chúng tôi thiếu thốn đủ thứ, thèm đủ thứ nhưng mình chịu đựng được vì rằng  tất cả những người xung quanh mình cũng phải chịu vậy…

- Khổ đều…

- Khổ đều. Nói chung, tôi thấy là phải có rèn luyện thì rồi mới trưởng thành được. Bản thân tôi cũng là như thế. Nói thật với anh, gia đình tôi không phải nông dân, không phải là gia đình bần cố nông?

- Hai bác sinh ra ông cũng là cán bộ, đúng không ạ?

- Bố tôi ngày xưa thế hệ các cụ đỗ tú tài phần thứ hai, rồi làm tòa sứ, cũng là trí thức nhưng ông bố tôi đi theo kháng chiến. Mình lại là con trai độc nhất trong nhà nên cũng được cưng chiều. Cho nên hồi mới ra kháng chiến, tôi có biết gánh đâu, có biết làm cái gì đâu.

- GS cũng giống tôi ngày xưa, khi mới vào bộ đội, cũng không hề biết gánh gồng gì cả, nhưng tập rồi cũng quen…

- Cực lắm, những hôm mình cố mà gánh, thì mình gánh khổ lắm. Nhưng rồi rèn luyện dần dần. Rồi những năm học ở Trường Y cũng thế, dày dạn dần. Vào  chiến trường, đói, chết lúc nào không biết; và nhất là quá gian khổ, quá cực. Ngày ấy, chúng tôi chỉ ước ao được ngủ một đêm là không phải lo chạy máy bay, hay được ngủ một mạch mà không phải bị gọi dậy vì có thương binh. Chỉ mong như thế.

- Nhưng hầu như không bao giờ đạt được mơ ước này…

- Năm tôi ở Quảng Trị, có những hôm dồn dập một lúc một mình phải đón tới 500 thương binh. Tôi phải làm việc liên tục, làm việc thì dưới sâu địa đạo. Còn nhớ, hôm hòa bình đầu tiên sau khi ký hiệp định hòa bình ở Paris, chúng tôi được phép lên mặt đất thì có anh đã ngất đi bởi vì ngộp: ở bên dưới ít không khí quá, bây giờ lên chỗ nhiều không khí thì bị ngất đi. Đấy, khổ đến mức như vậy. Hồng Thanh Quang thử tưởng tượng xem, suốt trong 8 tháng, tiếp tế không vào được, mỗi người chỉ được  phân một ngày một ống sữa bò gạo, cơm ăn chỉ có muối chưng với mì chính. Tôi nhớ, mâm 10 người thì chỉ có 7 miếng tóp mỡ, và nước chưng muối với mì chính để rưới ăn.

- Bữa nào cũng như bữa nào.

- Bữa nào cũng như bữa nào. Mình lại là trưởng đoàn, mình gương mẫu, 10 người có 7 miếng tóp mỡ, mình không gắp, nên có hôm anh em thương hại gắp cho một dúm 5-6 miếng, hôm ấy coi như mới được…

- Đã đời…

- Hôm ấy thấy sao mà nó ngon quá…

- Tôi nghĩ, đã có rất nhiều sách báo viết về chiến dịch Quảng Trị rồi, rất nhiều hồi ức, nhưng có lẽ vẫn còn không ít sự thật chưa được tiết lộ hết, chưa được mô tả đúng mức của nó.

- Nói thật với Hồng Thanh Quang, đã có nhiều cái chết, nhiều sự hy sinh rất thương tâm… Tôi là bác sĩ chữa chạy cho anh em lính nên anh em lính rất tín nhiệm, có chuyện gì cũng kể. Mình rất thương, có giai đoạn cứ một đêm có một trung đội phải vào thay, sáng hôm sau ra thì cả trung đội chỉ còn có 3-4 người, cứ ngơ ngơ ngác ngác… Nhiều cái thương tâm lắm.

- Tôi nghĩ đến thời điểm hiện nay, bất cứ ai đã từng có mặt trong những ngày ấy ở Quảng Trị mà sống sót trở về đều  xứng đáng được phong anh hùng. Đến thời điểm lúc này, thực sự, thậm chí là có thể chưa làm được gì, nhưng chỉ cần có mặt mà sống sót được ở Quảng Trị trong giai đoạn đó thì cũng là anh hùng rồi…

- Đúng thế, Hồng Thanh Quang ạ!

- Rất cảm ơn GS. Hy vọng sẽ có dịp trò chuyện tiếp với GS, về những công việc hôm nay mà tôi biết là không ít độc giả của Chuyên đề ANTG CT muốn được biết

H.T.Q.
.
.
.