Cốt cách

Thứ Năm, 14/02/2008, 14:30
Năm 1895, ông cử Nguyễn Sinh Sắc dời quê lần thứ hai, cuốc bộ dọc đường thiên lý tới kinh thành Huế, tìm thầy để sôi kinh, nấu sử; chuẩn bị thi Hội. Lần này, ông cử Sắc mang theo vợ, bà Hoàng Thị Loan; cùng hai con trai Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Côn (tên của Bác Hồ lúc nhỏ), con gái đầu Nguyễn Thị Thanh để lại cho mẹ vợ.

Sống ở kinh đô Huế được dăm năm, ông nhận được lệnh của quan Thượng thư Bộ học cử đi coi thi Hương tận xứ Thanh. "Vợ mới ở cữ lại mắc chứng hậu sản, con còn thơ dại, gia cảnh khánh kiệt... ai đang tâm dứt áo ra đi? Nhưng đây là lệnh của triều đình, ai dám chối từ?". Hai luồng suy nghĩ trái ngược này vò xé trong lòng ông.

Nhìn gương mặt đanh sắt lại, cùng ánh mắt đăm đăm như dán vào một nơi vô định của chồng, bà Hoàng Thị Loan nói:

- Mình ạ, cổ nhân đã dạy: "Sứ trời sớm giục đường mây/ Phép công là trọng niềm tây xá nào" (Chinh phụ ngâm). Nhà đi công việc lớn đừng bận tâm gì, ở nhà mẹ con tôi lo liệu được.

Trước khi đi, ông cử Sắc dành hẳn bốn ngày dặn dò tỉ mỉ vợ và bé Côn những việc cần thiết. Ông ra chợ mua những vị thuốc, rồi kê thành từng toa để vợ dùng khi ông vắng nhà... Coi thi Hương xong, ông cử Sắc và con trai Nguyễn Sinh Khiêm về tới Huế, một tin sét đánh, một đại họa đã giáng xuống đầu gia đình ông: Vợ ông đã... qua đời; đứa con út, bé Nhuận chưa đầy tuổi đang cơn nguy kịch, nằm thở thoi thóp.

Chạm cảnh xưa, chạm nhìn đến bé Côn rộc rạc, ngơ ngắt, ông khụy xuống như cây chuối bị chém ngang. Ông ôm vội bé Nhuận vào ngực, Khiêm, Côn gục đầu trên vai cha. Những tiếng "hờ" tức tưởi, nấc nghẹn nơi cổ họng, sáu bờ vai của ba cha con rung lên, rung lên bần bật. Ông dẫn hai con xăm xăm đến nghĩa địa. Ông ngồi thụp xuống trước nấm đất còn chưa xanh cỏ, cả hai bàn tay ôm lấy vầng trán. Nấm đất mới, cùng hai mái đầu còn để chỏm của Khiêm, Côn nhập nhòa trước mắt ông như được nhìn qua những màng bong bóng nước:

- Mình ơi sao nỡ bỏ cha con tôi lúc này... "Gia bần vô hiền thê, Quốc loạn vô lương tướng".

Hình ảnh người con gái làng Hoàng Trù gốc Hưng Yên - con của người đã nuôi dưỡng ông từ lúc ông còn là đứa trẻ chăn trâu mồ côi cha mẹ; con của người trực tiếp dạy dỗ khai tâm khai sáng cho ông; con của người gả con gái cho ông, đã lo đất dựng nhà dựng cửa cho ông, nuôi con ông, nhiều lần phải bán cả ruộng để cho ông ăn học - bỗng chốc tuần tự từ đầu chí cuối, hiện dần lên, rõ mồn một trong đầu óc ông.

Nào đâu bóng dáng của người con gái đã gắn vào cuộc đời ông như một thiên mệnh, mảnh như một nét huyền trên trang giấy cánh đồng ngút ngát trong một chiều đông chạng vạng, lặng ngắt nhu tờ. Nào đâu những đêm ông đèn sách, các con đã ngon giấc, người con gái ấy vẫn cầm canh kỳ cạch bên khung cửi dệt cho xong tấm vải để sớm mai đi chợ, mang về cho cha con ông đấu gạo, mớ rau.

Nào đâu mỗi bữa ăn, người con gái ấy chỉ qua loa, "Miếng nạc thì để phần chồng. Miếng xương của vợ, miếng lòng dành con"... Chao ơi, những hình ảnh của ngày hôm qua ấy bỗng chốc đã trở thành xa vắng. Những giọt nước từ hai bàn tay ấp trán của ông cử Sắc tràn xuống khuỷu tay, rơi thánh thót trên nấm đất tinh khôi.

Giữa lúc hoạn nạn này, ông cử Nguyễn Sinh Sắc đành dẫn hai con trở về quê nhà. Ông cử Sắc lập bàn thờ bà Hoàng Thị Loan ở gian giữa nếp nhà cũ bên ngoại, rồi phát tang vợ. Cảm kích trước nghĩa vợ chồng của cử Sắc - Hoàng Thị Loan, hai tri kỷ của ông là Phan Bội Châu và Vương Thúc Quý phúng một đôi câu đối "Hai chục năm đầu gối tay kề, nghĩa vợ tình chồng gương sáng mãi/ Mấy bạn hiền bút nghiên khuya sớm, sân Trình cửa Khổng bảng vàng tươi".

Lo liệu cho vợ chu đáo, ông cử Sắc tính trở lại Kinh dự kỳ thi Hội khoa Tân Sửu (1901). Điều đó lại chính là mong mỏi của mẹ vợ, cụ đồ An (cụ Hoàng Xuân Đường đã mất), mong chí trai trong cơn bĩ cực của người con rể. Cụ lại nuôi tất cả cháu ngoại, lại bán ruộng lần thứ ba, thuê xe phu trạm để chàng rể trẩy Kinh thi Hội...

Lần thi này ông đậu Phó Bảng. Theo quy định thời đó, quan tân khoa vinh quy phải về bên nội. Hội đồng hương lý làng Sen làm gấp cho ông một nếp nhà, trải chiếu hoa từ cổng làng đón ông. Không khí náo nhiệt tới tận canh khuya. Chờ cho người khách cuối cùng ra về, ông bảo hai con lớn:

- Các con vô giường kêu em Côn dậy. Cha con về bên nhà, về với bà, với mẹ.
- Thưa cha, bây giờ đã khuya lắm rồi. Sáng cha con về sớm có được không?
- Về ngay các con ạ, đêm nay bà không ngủ được mô.

Bốn cha con ông Phó Bảng tất tả về nhà bên ngoại, làng Hoàng Trù. Vừa bước vào sân, nhìn qua cửa, trong ánh đèn leo lét, cụ đồ An đang gục đầu trước bàn thờ con gái. Ông Sắc chạy vội vào, gọi to: "Mẹ". Cụ bà Hoàng Xuân Đường quay ra bíu vào hai vai con rể - Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc - nói:
- Khuya quá rồi... sao cha con không nghỉ, ngày mai về cho đỡ khổ...

- Lẽ ra con đăng khoa giành được bảng vàng thì về ngay với mẹ. Thầy mất rồi! Nhà con mất rồi! Vì tục lệ, con phải về Kim Liên bái tổ. Xong rồi... sớm muộn gì con cũng về ngay đêm nay với mẹ.

- Loan ơi, chồng con vinh quy về đây! Con xấu số, phận thiệt thòi! Sắc con ơi, phúc họa kề nhau. Vợ chết, con còn thơ dại, anh trẻ chưa qua già chưa đến, biết trước cơ sự này tôi đã không cho bé An lập gia thất. Cháu bú vú dì là hơn.

- Xin mẹ bớt phiền lòng lo nghĩ. Con vẫn coi nhà con hằng sống để cùng con chăm sóc mẹ tuổi già, để lo liệu nuôi các cháu nên người. Con sẽ không bao giờ làm bạn với bất kỳ người con gái nào...

Trước đó, khi ông Sắc đăng quang Phó Bảng khoa 1901, cụ Cao Xuân Dục Thượng thu Bộ học, Tổng tài quốc sỹ giám, Đông Các đại học sỹ, tước An Xuân Tử mời ông Sắc đến tư dinh.

Cụ cám cảnh ông Phó Bảng (Khoa thi Hội Tân Sửu vừa rồi do cụ Đông các làm chánh chủ khảo) Nguyễn Sinh Sắc vợ mới mất, các con đều còn niên thiếu, cụ còn người con gái mười bảy tuổi chưa hứa hôn, cụ quyết định gả cho ông Sắc, kế mẫu chăm nom các cháu, nâng khăn sửa túi cho quan tân khoa. Nghe vậy, ông Sắc vội quỳ xụp xuống, vái tạ tấm lòng cao cả của đức ông Đông các Đại học sỹ:

- Thưa đức ông, hai vai con nặng nghia tình ba chữ phụ: dưỡng phụ, sư phụ, nhạc phụ. Con là đứa trẻ mồ côi, cha mất sớm, mẹ mất chiều, lúc con mới hơn bốn tuổi. Cụ tú Hoàng Xuân Đường đón con về nuôi - dưỡng phụ; dạy cho con học - sư phụ; gả con gái cho con - nhạc phụ. Điều bất hạnh với con là người cha nuôi dưỡng, người thầy dạy chữ thánh hiền, người bố vợ nhân từ đã khuất núi; rồi người vợ hiền thục nuôi chồng "cơm chéo áo, gạo chéo khăn" để chồng đèn sách... lại còn có người mẹ vợ là dưỡng mẫu của con, nuôi con con, đã từng mấy lần bán ruộng cho chàng rể đi thi. Mẹ đang mong đợi ngày con rể về vinh quy bái tổ. Cho nên con xin bái tạ để tròn hiếu nghĩa... và con mãi mãi ghi nhớ tấm lòng cao cả của đức ông...

Cách ứng xử của Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc với vợ, gia đình vợ, đó là cách ứng xử của bậc chân nho. Việc ông đang ở giữa cái tuổi trẻ chưa qua già chưa tới, mà đã sớm thành "trai thất nội trợ" lại quỳ xuống trước mặt cụ lớn Cao Xuân Dục khước từ làm chồng người con gái trẻ đẹp, lầu son gác tía, danh gia vọng tộc chỉ vì trên vai ông phải gánh ba chữ phụ; với bậc trượng phu học chữ thánh hiền, ở không gian sống mà hành vi con người được điều chỉnh bằng tư tưởng Nho giáo... đó chính là lời thề dao chém đá, vạch đất chỉ trời của quan Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc trước anh linh của dưỡng phụ, sư phụ, nhạc phụ Hoàng Xuân Đường; trước anh linh của người vợ mà ông đã lập bàn thờ giữa trái tim mình, thử hỏi còn việc gì linh thiêng hơn thế?

Cộng dồn những nỗi đau lớn, người có chữ chẳng còn thấy điều gì là thú vui. "Quốc loạn vô lương tướng", sung sướng nỗi gì khi làm quan của triều đình nô lệ, giống nòi lầm than. "Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hữu nô lệ" (Quan trường là những người nô lệ trong những người nô lệ lại càng nô lệ hơn).

Bất lực không còn "Thượng y y quốc" (Thầy cao phải chữa bệnh cho nước) được nữa, ông đành "Trung y y dân" (Thầy bậc trung thì chữa bệnh cho dân), Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc từ bỏ chức tri huyện của mình, sống ẩn dật, kê đơn bốc thuốc cứu nhân độ thế.

Trước khi xuống tàu đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành tìm gặp cha ở Sài Gòn. Những tưởng cha con lâu ngày gặp nhau phút ban đầu sẽ mừng mừng tủi tủi; nhưng không, quan Phó bảng vẫn điềm nhiên kê đơn, ngẩng đầu lên lạnh lùng hỏi con trai: "Mất nước không tìm đường cứu nước, tìm cha làm gì?". "Mất nước, cứu nước", mệnh lệnh này đã được đính vào từng tế bào sống của mỗi con người trong gia đình Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc - Hoàng Thị Loan.

Tất cả các con của ông bà: Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Tất Thành đều tham gia, ủng hộ những phong trào yêu nước như Cần Vương, Việt Nam quang phục hội... đều có tên trong sổ đen của mật thám Pháp như những "phần tử nguy hiểm đe dọa sự vững bền của nhà nước bảo hộ".

Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Sinh Khiêm đều bị thực dân giam cầm tra tấn dã man. Nước mất mà chưa cứu được nước, nỗi đau này cùng với việc vắt kiệt thân mình tìm đường rửa hận cho dân tộc đã lấn át, triệt tiêu những quy luật rất đỗi cần thiết của các con cụ Phó bảng. Tất cả đều không xây dựng gia đình riêng.

Viết đôi điều về nghĩa vợ chồng (thực chất là quan niệm về tình yêu) của cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc để thấy rõ hơn một khía cạnh của môi trường đã luyện ra một nhân cách lớn, luyện ra nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh. Điều đó cũng là hưởng ứng cuộc vận động tìm hiểu về đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh

Lê Thiết Thạch
.
.
.