Chuyện về "Dũng sĩ 1 thắng 20"

Thứ Hai, 23/05/2005, 07:34

Trời Gia Lai se lạnh, từ thành phố Pleiku đến huyện Mang Yang hai bên đường hoa cúc quỳ đua nhau khoe sắc một màu vàng rực, báo hiệu khí hậu Tây Nguyên nói chung, Gia Lai nói riêng đã chuyển sang mùa khô hanh. Chúng tôi đến nhà thăm ông “dũng sĩ 1 thắng 20” vào một ngày cuối tuần.

Ông tiếp chúng tôi trong ngôi nhà thoáng rộng, "sản phẩm" của mấy vụ cà phê, tiêu và cây trái trong vườn. Đây cũng là ước mơ của vợ chồng ông lâu lắm rồi, để bạn cùng đơn vị, bạn chiến đấu đến thăm có cái ăn, cái uống và nơi ngủ nghỉ đàng hoàng, chứ không như những năm trước cứ mỗi lần bạn bè đến là bị hấp nóng dưới mấy tấm tôn nhỏ hẹp, ái ngại vì “lực bất tòng tâm”. Chưa hết chén trà đầu, vợ ông đã bưng lên một mâm đầy quả chín: đu đủ, cam, quýt, xoài, ổi... để mời khách thưởng thức hương vị quê hương dưới bàn tay cần mẫn chăm sóc của người dũng sĩ năm xưa mà tên tuổi đã đi vào sách báo.

Qua câu chuyện ban đầu, biết chúng tôi cũng là những người lính từng xông pha trận mạc, ông như thân mật hơn, gần gũi hơn và cứ thế khách - chủ những câu chuyện nối dài, những trận cười vui vẻ. Đang lúc vui chuyện, tôi đề nghị ông kể lại thành tích và những kỷ niệm của cuộc đời binh nghiệp mà ông đã đi qua. Đặc biệt là con đường đi tới “Dũng sĩ 1 thắng 20” lừng lẫy của ông mà nhạc sĩ Huy Thục đã cảm phục, ngẫu hứng sáng tác thành công bài hát "Dòng suối La La" mà những năm tháng chống Mỹ cứu nước NSND Tường Vi đã hát rất hay phục vụ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong cả nước.

... “Ơi con suối La La/ Nước trong xanh hiền hòa/ Chảy quanh đồi Không Tên/ Nay đồi đã mang tên/ Tiểu đội Bùi Ngọc Đủ/ Mười dũng sĩ diệt Mỹ...”. Nội dung bài hát nói về cuộc chiến đấu của tiểu đội Bùi Ngọc Đủ (thuộc Đại đội 12, Tiểu đoàn 10, Trung đoàn 848, Sư đoàn 320) có nhiệm vụ bảo vệ 1.800 quả đạn pháo hỏa tiễn HA12 chuẩn bị cho trận đánh quan trọng ở mặt trận phía bắc tỉnh Quảng Trị, mở rộng vùng giải phóng, làm cơ sở, làm bàn đạp cho quân và dân Trị - Thiên tấn công tiêu diệt địch ở khu vực tây nam Quảng Trị và bắc Thừa Thiên - Huế.

Sáng ngày 28/2/1967, Tiểu đội trưởng Bùi Ngọc Đủ đi kiểm tra lại các vị trí canh gác, đặc biệt là các hầm đạn. Chợt nghe thoang thoảng trong gió mùi thuốc lá thơm, linh tính người lính trận mách bảo, chắc đâu đây không xa có lính biệt kích nhảy dù, hay lính Mỹ đi sục sạo. Đồng chí Đủ nhanh chóng báo động anh em vào vị trí chiến đấu, còn ông nhanh như con sóc thụt xuống chân đồi kiểm tra "mùi lạ”. Tập trung thính giác, căng mắt quan sát qua làn sương dày đặc, ông đã mờ mờ thấy bọn Mỹ lô nhô  đang vượt qua con suối La La dưới chân đồi Không Tên (đồi tiểu đội ông đang chốt giữ) lầm lũi tiến về phía ông. Bình tĩnh đợi chúng đến thật gần, ông quạt ngang một loạt AK, rồi chạy lên trận địa cùng 9 chiến sĩ (Lương Văn Tầm, Nguyễn Hồng Kinh, Đặng Văn Hạng, Nguyễn Văn Tía, Nguyễn Nhân Nhê, Nguyễn Văn Niên, Lê Văn Chính và Nguyễn Văn Nhân) bám trụ chiến đấu.

Sau ít phút hoảng hồn, bọn Mỹ tập trung hỏa lực bắn xối xả lên đồi và dàn đội hình thành một vòng cung quây lấy trận địa của tiểu đội Bùi Ngọc Đủ. Gan dạ, tự tin tiểu đội trưởng luôn động viên anh em, bình tĩnh đợi chúng đến thật gần rồi bắn cho chắc... cứ thế bao lần tấn công, chúng đều bị tiểu đội Bùi Ngọc Đủ đánh bật ra. Thương vong, thất vọng, cay cú, chúng lùi xuống chân đồi rồi gọi máy bay ném bom và pháo binh từ Cồn Tiên, Dốc Miếu, Quán Ngang bắn dồn dập, hòng san bằng trận địa. Càng về trưa, nắng càng gay gắt và trận đánh cũng càng thêm ác liệt. Điểm cao 360, đất đá bị cày xới. Khói lửa đạn và hơi nóng làm cho không khí như quánh lại, cổ họng cũng rát bỏng, mỗi lần thở như nuốt thêm một dòng nham thạch chảy qua cổ... Thế nhưng, cứ mỗi lần đánh địch bật tung xuống chân đồi là một lần Bùi Ngọc Đủ bò đến từng vị trí chiến đấu trong đường hào, động viên chiến sĩ, tranh thủ thời gian sửa chữa, củng cố công sự, chuẩn bị cho những trận chiến đấu tiếp theo.--PageBreak--

Trong cuộc chiến không cân sức đầy ác liệt, Nguyễn Nhân Nhê rồi Nguyễn Văn Niên đã hy sinh, Lê Văn Chính bị thương nặng. Tiểu đội chỉ còn 7 người nhưng họ vẫn bám trụ chiến đấu kiên cường cho đến 7 giờ tối. 15 lần lợi dụng ưu thế về súng đạn, con người, bọn Mỹ ồ ạt tấn công lên đồi Không Tên đều bị tiểu đội Bùi Ngọc Đủ đánh bật xuống chân đồi, để lại 9 khẩu đại liên và nhiều vũ khí trang bị khác. Niềm vui thắng lợi đến với tất cả mọi người. Riêng trong trận này, Tiểu đội trưởng Bùi Ngọc Đủ đã tiêu diệt 21 tên, được thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất, được anh em bình chọn đi báo cáo thành tích ở Quân khu và ở thủ đô Hà Nội.

Dừng lại uống trọn chén trà xanh, tôi thấy khóe mắt ông giật nhẹ, đo đỏ, có lẽ trận mạc và những kỷ niệm về đồng đội được tái hiện đã làm cho ông xúc động.

Giáp Tết, năm Đinh Mùi (1967) sau khi được ra miền Bắc báo cáo thành tích, điều may mắn và hạnh phúc nhất của “Dũng sĩ 1 thắng 20” là được gặp Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sau khi hỏi thăm tình hình sức khỏe, tình hình ở chiến trường, Bác biểu dương thành tích của các dũng sĩ trong đoàn. Bác giảng giải về tình hình chính trị chung và những âm mưu của đế quốc Mỹ đối với cách mạng Việt Nam; đồng thời căn dặn những dũng sĩ trở về miền Nam là phải cố gắng đưa cho được “voi sắt” vào chiến trường, chi viện kịp thời cho bộ binh đánh địch, góp phần cùng quân dân cả nước nắm chắc thời cơ để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc trong thời gian gần nhất...

Những lời Bác dặn đã giúp ông thêm sức mạnh xông pha trận mạc. Từ chiến trường Thừa Thiên-Huế (1969 - 1970) vào Tây Nguyên tham gia giải phóng Đắk Tô, Tân Cảnh rồi đánh tiếp Chư Nghé cho đến năm 1975, ông cùng cánh quân hùng mạnh đánh vào Buôn Ma Thuột rồi tuốt vô Đồng Dù, Củ Chi để cuối cùng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

“Dũng sĩ 1 thắng 20” lại quay về Tây Nguyên tiếp tục cùng đồng đội truy quét FULRO, làm trong sạch địa bàn, giúp nhân dân địa phương phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống. Bước chân của ông đã đi qua hàng ngàn kilômét đường Hồ Chí Minh để tham gia hơn 100 trận đánh và cũng không hiếm lần “lâm trận” như ở đồi Không Tên. Vẫn biết nhiệm vụ người lính là chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, gian khổ hy sinh là chuyện bình thường, nhưng con số hơn 100 trận đánh và một ngày chiến đấu đã bẻ gãy 15 đợt tấn công của quân Mỹ và tiêu diệt 21 tên thì cũng thật là chuyện hiếm có.

Cho đến bây giờ tuổi đã nhiều, sức đã yếu, nhưng màu áo lính vẫn khoác lên vai ông “Dũng sĩ 1 thắng 20”. Lúc này ông đang là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Mang Zang. Người lính năm xưa giờ đây vẫn nhiệt tình, trách nhiệm, hết mình cho công việc, Hội Cựu chiến binh của ông luôn bám sát thực tế và hoàn thành tốt các nhiệm vụ. Từ năm 1993 đến nay, năm nào Hội Cựu chiến binh huyện cũng được UBND tỉnh Gia Lai tặng bằng khen; năm 2002 được Hội Cựu chiến binh Việt Nam tặng cờ Đơn vị quyết thắng.

Trước lúc chia tay, chúng tôi hỏi ông: Thành tích của bác là thế và cái tên “Dũng sĩ 1 thắng 20” cũng được nhiều người biết đến với tình cảm yêu quý, khâm phục nên cháu cứ nghĩ bác được phong danh hiệu anh hùng. Ông trầm ngâm trả lời: “Trận mạc và thành tích không có nghĩa là phải được phong tặng danh hiệu anh hùng. Quân đội ta bao nhiêu tướng - tá tài tình có phải ai cũng được Nhà nước phong anh hùng đâu!”.

Nghe ông nói, tôi nhớ lại lời các cụ xưa: Về già, người ta thường sống với quá khứ nhiều hơn là hiện tại. Quá khứ của một con người... rất dễ bị lãng quên? Riêng với ông "Dũng sĩ 1 thắng 20" thì quá khứ đã thành danh rạng rỡ đã in đậm trong tâm trí nhiều người lại được nối tiếp bằng những đóng góp hiện tại quả không nhỏ thật đáng trân trọng...

Lê Quang Hồi
.
.
.