Chuyện đời của một con người đặc biệt

Thứ Sáu, 08/11/2013, 14:00

Cuốn tự truyện "Tôi nghe tôi hát" là bản tổng kết cuộc đời của một nữ chiến sĩ cách mạng có một nghị lực sống phi thường được hun đúc bởi dòng máu truyền thống của gia đình và nghị lực của bản thân hiếm có…

Thứ bảy tuần trước, từ Hà Nội, nhà văn Trung Trung Đỉnh – Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn gọi điện thoại cho tôi. Anh bảo rằng, tuần sau anh sẽ vào Đà Nẵng để tổ chức buổi giới thiệu sách của một tác giả rất đặc biệt rồi dặn tôi nhớ đến tham dự. Đúng hẹn, tôi có mặt ở trụ sở của Hội Văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng từ rất sớm để cùng với nhà văn Trung Trung Đỉnh, nhà văn Thái Bá Lợi – Giám đốc chi nhánh Nhà xuất bản Hội Nhà văn tại miền Trung chuẩn bị cho buổi ra mắt tập sách Tôi nghe tôi hát của tác giả Trần Duy Phương, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Phương Nam Book ấn hành quý 3 năm 2013.

Cầm cuốn sách còn thơm mùi mực mới trên tay với lời giới thiệu của nhà văn Trung Trung Đỉnh: “Toàn bộ tuổi trẻ của Trần Duy Phương – Trần Thị Mai là chiến đấu và chiến thắng. Chị đã và đang chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, cũng như chiến đấu và chiến thắng thương tật, bệnh tật. Sức sống kỳ lạ của một con người kỳ lạ. Đó là sự bất tử của tinh thần kiêu hãnh và kiên trung mà chỉ có tuổi trẻ và lý tưởng của tuổi trẻ Việt Nam mới có được”. Nhà văn Thái Bá Lợi nói thêm: “Câu chuyện cuộc đời của Trần Duy Phương đã thuyết phục người đọc bởi lời văn giản dị, các sự kiện được trình bày chi tiết, trung thực, không lên gân, gần gũi với suy nghĩa của mọi người. Cuộc đời của nữ chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi cứ hiện lên bình dị trong khốc liệt, nỗi đau và niềm vui đan xen nhau như đời thường trong cái bất thường của cuộc sống”.

Lời giới thiệu của những nhà văn nhiều uy tín ấy đã làm cho tôi không khỏi tò mò về tác giả của cuốn sách, cho đến khi chị xuất hiện trên đôi nạng gỗ trước sự òa vỡ của muôn chiều cảm xúc, của tất cả những người có mặt dù họ là bạn bè năm xưa cùng học với chị ở Trường Trung học Trần Quý Cáp – Hội An, họ là cựu tù chính trị trong thời kỳ chống Mỹ hay là những người tuổi trẻ yêu mến văn chương và truyền thống cách mạng của một dân tộc anh hùng…

Chị ngồi đó, trước rất nhiều người ngưỡng mộ, trong giàn giụa nước mắt và cảm xúc dâng trào, chị đã kể lại cuộc đời mình một cách dung dị. Quê hương chị nằm trong vùng Gò Nổi thuộc huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Cha chị là con trai độc nhất trong gia đình. Mẹ chị là con gái của một gia đình gia thế có truyền thống yêu nước. Bà ngoại (lớn) của chị là con gái của cụ Tán Thừa, cụ là nhà nho yêu nước và là người đã lập căn cứ địa ở vùng Tây của huyện Đại Lộc (Quảng Nam) để chiêu mộ nghĩa binh đánh Pháp. Chị có hai người cậu ruột, một là con rể của nhân sĩ yêu nước Trần Cao Vân, một là cháu rể của Tổng đốc Hoàng Diệu…

Chị Trần Duy Phương bây giờ.

Với giọng nói trầm ấm, chân tình, chị kể rằng: Cha chị tham gia Mặt trận Việt Minh từ rất sớm và là Chủ tịch Mặt trận Việt Minh đầu tiên của Tổng Đa Hòa (sau này đổi thành xã Chương Dương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Một vài năm sau ngày giành chính quyền, cha chị được tổ chức điều động lên tỉnh, rồi được cử làm chủ tịch huyện miền núi Phước Sơn của tỉnh Quảng Nam.

 Mùa hè năm 1955, buổi chiều khi cả nhà chị đang ngồi ăn cơm thì bất ngờ có nhiều người ăn vận áo quần đen xông vào nhà lục soát. Họ lục lọi, kiểm tra tất thảy, kể cả những món đồ đạc nhỏ nhất rồi sau đó còng tay cha chị dẫn đi trong sự run sợ của cả gia đình. Sau khi bị bắt, cha chị bị áp giải về quận, rồi từ đó ông bị giải về giam giữ ở nhà lao Hội An, rồi bị chuyển ra giam ở nhà lao Đà Nẵng trước khi bị đày ra Côn Đảo và hy sinh ở đó.

Sau này trong tự truyện Tôi nghe tôi hát chị viết: “Năm 1960, khi tôi đang học lớp Nhất (lớp 5 bây giờ), vào một buổi chiều khi đi học về, tôi thấy mẹ và hai em trai của tôi từ quê xuống. Tôi rất mừng nhưng linh cảm như có điều gì đó không bình thường, vì ít có khi nào mẹ tôi dắt cả hai đứa em tôi đi cùng một lúc. Sau đó thì em trai tôi kể cho tôi hay là cha tôi đã hy sinh ở Côn Đảo. Về sau, thỉnh thoảng tôi lại được tin có người tù ở Côn Đảo được thả về. Mỗi lần như thế, tôi thường tìm đến các chú, các bác để hỏi thăm về cái chết của cha tôi. Khi biết tôi là con gái của Trần Tường, các chú các bác ấy đã rất yêu thương và xem tôi như con của mình vậy. Các chú các bác ấy đã nhắc đến cha tôi với lòng ngưỡng mộ và rất mến phục. Chú Thắng, một cựu tù Côn Đảo còn nói với tôi rằng: “Ba cháu đã hy sinh như một người anh hùng”. Tôi được biết, cha tôi bị biệt giam trong hầm đá vì ông đã tham gia chống ly khai, chống xé cờ Đảng trong chiến dịch “khủng bố trắng” của Mai Hữu Xuân, Tổng cục trưởng Tổng cục cảnh sát ngụy lúc bấy giờ…”.

Biết được một cách tường tận cái chết của cha, lòng căm thù giặc trong con người chị cũng từ đó mà bắt đầu được nhen nhóm. Câu hỏi “cách mạng là gì?” bắt đầu ám ảnh chị, dù rằng chị chưa đủ lớn để hiểu việc cha chị đã làm nhưng chị tin những gì ông làm là những điều mà lý trí và con tim ông mách bảo. Càng thương nhớ người cha đã khuất, chị càng lao vào chăm lo việc học hành nhiều hơn.

Khoảng thời điểm giữa năm 1965-1966, chị về quê để nghỉ hè thì quân giải phóng kép về giải phóng vùng đất Sơn Bình nơi gia đình chị đang sinh sống.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng ở quận lỵ bắn xối xả vào vùng giải phóng. Nhiều người dân trong làng Sơn Bình bỏ chạy. Chị vơ vội mấy thứ áo quần, sách vở rồi cắm đầu chạy theo đoàn người thoát thân… Vài ngày sau ở khu di dân Bà Xá, chị gặp anh Phê và anh đã tuyên truyền cho chị rất nhiều điều về cách mạng. Sau một hồi thuyết giảng, bất ngờ anh Phê hỏi chị: “Lý tưởng của Phương hiện tại là gì?”. Chị chân thành trả lời anh Phê rằng hai tiếng lý tưởng bây giờ đối với chị còn quá mới mẻ, nhưng chắc chắn một điều là chị sẽ đi theo con đường mà cha chị đã đi. Ngày hôm sau, chị gặp chú Phước trong đội công tác và xin chú cho chị được thoát ly. Sau khi thống nhất, nửa đêm chú Phước đến nhà gọi dậy dắt chị đi vào rừng để ở với đội công tác. Đang chờ chưa biết ngày nào sẽ được ra miền Bắc thì chị nhận được tin của cô chị đang công tác tại Hội phụ nữ huyện Quế Sơn báo về là Ban Giáo dục huyện đang chiêu sinh một lớp giáo viên cấp tốc. Cô chị đã liên hệ và đăng ký theo học lớp này. Nhận được tin, chị mừng vui khôn xiết, rồi vội vàng lên đường đi ngay để kịp ngày nhập học. Vì là lớp đào tạo cấp tốc, nên những học viên chỉ được đào tạo trong khoảng thời gian 10 ngày và ngay sau đó được tung về các địa bàn vừa được giải phóng để làm nhiệm vụ. Chị được phân công về dạy lớp 4 ở địa bàn xã Sơn Long. Dạy học được một thời gian thì chị nhận được chỉ thị phải về huyện để gặp ông Phạm Trọng Hoàng – Bí thư huyện ủy gấp. Ở văn phòng của Bí thư huyện ủy, chị gặp anh Sơn và chị Hương đang công tác ở đoàn văn công tỉnh Quảng Nam. Qua trao đổi, chị biết hai anh chị đến để xin chị về Đoàn văn công tỉnh. Trước lời đề nghị có phần đường đột này, chị đã tìm đủ mọi cách để từ chối và chính quyết định khước từ về Đoàn văn công của chị đã làm cho anh Sơn, chị Hương cùng với ông Bí thư huyện ủy không vui. Trở lại với công việc dạy học, chị suy nghĩ rất nhiều về quyết định của mình… Trong khi đang ngổn ngang tâm trạng như thế thì chị nghe tin Ban Kinh tài của tỉnh chiêu sinh một lớp học kế toán. Ngay sau đó, chị đã đến Ban Kinh tài của huyện để đăng ký học. Sau 3 tháng học tập miệt mài, chị được điều về Tiểu ban tài chính thuộc Ban Kinh tài của tỉnh với nhiệm vụ kế toán kiêm quản lý ấn chỉ.

Từ phải sang: Nhà văn Trung Trung Đỉnh, tác giả Trần Duy Phương và Nhà văn Thái Bá Lợi trong ngày ra mắt sách “Tôi nghe tôi hát” tại Đà Nẵng.

Công tác ở địa bàn vùng núi nhiều năm trong điều kiện vô cùng kham khổ, nên chị thường xuyên đau ốm, thêm vào đó là những trận sốt rét rừng quái ác dường như đã quật chị gục ngã. Có những lúc chị đã phải viết đơn gửi đơn vị xin được nghỉ việc để về nhà nhờ mẹ chị chăm sóc. Ốm đau là thế, nhưng khi mới thấy cơ thể mình hơi khỏe lại là chị lại tìm về đơn vị để tiếp tục công việc. Công tác ở Ban Kinh tài được một thời gian, chị lại có Quyết định của cấp trên điều về công tác ở Ban Tuyên huấn huyện. Đó là một công việc mà chị rất yêu thích vì thế khi nhận được quyết định của Ban Tổ chức huyện ủy chị đã hết sức vui mừng.

Khoảng 8 giờ sáng ngày 7 tháng 10 năm 1968, khi chị đang trao đổi công việc với lãnh đạo đơn vị thì chị nghe tiếng súng nổ từ rất gần. Bất ngờ, một đồng chí lãnh đạo trong đơn vị hô to: “Chúng ta bị bao vây rồi”. Không ai bảo ai, tất cả mọi người trong đơn vị đều nhanh như cắt, khoác ba lô lên vai băng nhanh qua suối, rồi leo lên những đám ruộng bậc thang phía trước mặt mình. Chị kể: “Trong hoàn cảnh ấy, không nói ra nhưng chắc chắn mọi người đều cùng chung suy nghĩ không để cho địch bắt sống. Bởi những đám ruộng bậc thang không thể nào là lối thoát khi càng lên cao càng làm mục tiêu rõ hơn cho những họng súng của địch từ sau bắn tới. Chạy được một đoạn thì chị bị trúng đạn của kẻ thù. Việc đầu tiên là chúng lục tung ba lô để kiểm tra, rồi thay phiên nhau để hỏi chị rất nhiều điều. Trong khi đó, chị vẫn nghiến răng để trả lời chúng rằng: “Các ông cứ bắn chết tôi đi, tôi không trả lời bất cứ điều gì đâu”. Trong cơn đau đớn, chị vẫn nghe rất rõ lời của một tên lính cộng hòa nói với viên phiên dịch: “Trung sĩ nói giúp với chỉ huy cho phép bọn em được bắn con nhỏ Việt cộng ngoan cố này”. Đến khi chị mở mắt tỉnh lại thì thấy mình đang nằm trong bệnh viện, chung quanh toàn là những người Mỹ mặc áo blu trắng. Ngay sau đó, một viên trung úy người Mỹ và một viên phiên dịch người Việt có mặt bên giường bệnh để hỏi cung chị. Viên phiên dịch có dáng người dong dỏng cao, nước da trắng, ăn nói rất nhỏ nhẹ: “Em tên gì?”. Chẳng hiểu vì sao chị lại nghĩ ra cái tên Trần Thị Mai để khai với viên phiên dịch và đó cũng là cái tên đã đi theo chị đến khắp các nhà tù của Mỹ ngụy cho đến ngày chị được trả tự do…

Sau khi được cứu sống, chị bắt đầu trải qua những trận tra tấn vô cùng tàn độc của kẻ thù, mặc dù vết thương của chị ở cột sống là rất nặng nề, chị luôn phải di chuyển trên băng ca của bệnh viện. Từ bệnh viện dã chiến của quân đội Mỹ ở Non Nước, chị bị chuyển đến để tiếp tục điều trị và khai thác ở Tổng y viện Duy Tân Đà Nẵng của quân đội ngụy.

Kẻ thù đã đưa chị từ Tổng y viện Duy Tân về giam giữ ở Trại giam Non Nước (Đà Nẵng), rồi trại giam Phú Tài (Quy Nhơn) và Trại giam nữ tù chính trị ở Cần Thơ. Trong những năm tháng khổ ải trong nhà lao của giặc, nữ tù nhân Trần Thị Mai vẫn luôn giữ tròn khí tiết của một người Cách mạng.

Sau Hiệp định Paris năm 1973, chị là tù nhân chính trị được trao trả từ nhà giam Cần Thơ về chiến khu Lộc Ninh của quân giải phóng. Từ đó, chị vẫn miệt mài điều trị thương tật trong sự chăm bẵm hết lòng của những người đồng chí thân thương. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chị về đoàn tụ với gia đình ở Đà Nẵng, rồi vài năm sau đó chị chuyển về sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh để thuận tiện hơn với việc chạy chữa thương tật…

Cuốn tự truyện Tôi nghe tôi hát là bản tổng kết cuộc đời của một nữ chiến sĩ cách mạng có một nghị lực sống phi thường được hun đúc bởi dòng máu truyền thống của gia đình và nghị lực của bản thân hiếm có…

Phan Bùi Bảo Thy
.
.
.