Chủ tịch Arafat - người anh hùng của Palestine

Thứ Sáu, 12/11/2004, 16:57

Đối với người Palestine, Chủ tịch Arafat mãi là biểu tượng cho ước mơ xây dựng đất nước không bao giờ bị hủy diệt. Khi con đường hòa bình mà ông dốc sức kiến tạo trong hơn 50 năm qua vẫn còn dang dở thì ông đã vĩnh viễn ra đi ở tuổi 75.

Ngày 24/8/1929, Rahman Abder Rauf Arafat chào đời. Tên đầy đủ của ông là tên đỉnh một ngọn núi gần thành cổ Jerusalem, ý nghĩa là “Thánh và may mắn”.

Là một thanh niên giàu lòng yêu nước, năm 1945, Arafat tham gia đảng Palestine - Arập và tổ chức “Nhóm Abu Khaled tử vì đạo”. Để có vũ khí chống lại sự thống trị của nhà đương cục Anh và chủ nghĩa phục quốc Do Thái, Arafat  đã xung phong vào các bộ lạc sa mạc mua bán vũ khí và trở thành người anh hùng trong lòng người dân Palestine.

Năm 1957, sau khi tốt nghiệp đại học công trình ở Cairo, Ai Cập, Arafat mở Văn phòng thầu khoán kiến trúc tại Kuwait. Trải qua một thời gian kinh doanh đổ nhiều tâm sức, Arafat đã trở thành triệu phú với 7 xe ôtô và một tòa biệt thự sang trọng. Nhưng cuộc sống vật chất dồi dào cũng không vợi đi nỗi buồn cố quốc trong lòng Arafat. Mộng ước của ông vẫn là được sống và chiến đấu trên quê hương, nơi có ngọn núi nhỏ mà ông mang tên.

Không lâu sau, Arafat đóng cửa công ty, dốc tâm vào phong trào phục quốc thần thánh. Từ đó, thế giới thiếu đi một triệu phú, nhưng lại có thêm một nhà chính trị, nhà ngoại giao, một chiến sĩ du kích kiệt xuất.

“Con chim lửa”

Năm 1959, Arafat và các chiến hữu thành lập “Phong trào giải phóng Palestine”, chữ Arập viết tắt là FATAH, ý nghĩa  của nó trong kinh Coran là “cửa mở của thắng lợi”. Họ tin rằng, người Palestine cần nắm vận mệnh của mình thông qua đấu tranh vũ trang để thu phục đất đai, xây dựng đất nước.

Năm 1967, kết thúc “Chiến tranh 6 ngày”, các nước Arập thất bại; Israel chiếm Bờ Tây sông Jordan, Dải Gaza, Jerusalem và cao nguyên Golan. Lúc đó FATAH chỉ có 297 chiến sĩ, đa số không qua huấn luyện quân sự chính quy. Họ đã cùng Arafat bí mật xâm nhập các lãnh khu mà Israel chiếm đóng, đi khắp Bờ Tây sông Jordan, Dải Gaza, cổ vũ quần chúng Palestine chống lại bọn xâm lược và được nhân dân nhiệt tình ủng hộ.

Trại tị nạn Karmey của người PalestineJordan vì thường xuyên chi viện cho chiến sĩ FATAH đã trở thành mục tiêu đánh phá của Israel. Sáng ngày 21/3/1968, Israel đưa lượng lớn xe tăng, xe bọc thép với sự hỗ trợ của không quân và pháo binh vượt qua sông Jordan tiến vào trại Karmey. Nhưng du kích FATAH đã chuẩn bị, mấy trăm tay súng và hàng nghìn dân binh dưới sự chỉ đạo của Arafat  đã phá hủy 17 xe tăng, bắn rơi một máy bay trực thăng, đánh tan nhiều đợt phản công của quân Israel, tiêu diệt trên 400 quân địch. Quân Israel phải rút lui. Arafat không bỏ lỡ thời cơ tuyên truyền chiến thắng. Sau đó vài giờ đồng hồ, tiếng vang của Arafat  được truyền trên sóng phát thanh khu vực Trung Đông, tin tức FATAH anh dũng chiến thắng Israel được lan truyền khắp hoàn cầu.

Arafat và FATAH bắt đầu vang danh. Ảnh Arafat  với chiếc khăn Kaffiyeh quấn đầu được đăng trên trang nhất của nhiều tờ báo và tạp chí quốc tế. Arafat trở thành người con vinh quang của người Arập. Tại Amman, Arafat đã long trọng cử hành lễ chôn cất các chiến sĩ hy sinh trận mạc ở Karmey, hàng vạn người Palestine tham gia lễ lớn, quây quần xung quanh Arafat và các lãnh tụ FATAH, đã hô to: “Chúng ta đều là chiến sĩ du kích!”. Sau đó 3 ngày, hàng vạn người viết đơn tự nguyện tham gia đội du kích. Năm 1969, Arafat được bầu làm Chủ tịch PLO, trở thành lãnh tụ của nhân dân Palestine.

Nhưng, Arafat có lực đánh bại kẻ thù thì lại không đủ sức để ngăn cản thảm kịch nội bộ. Sự lớn mạnh của PLO đã vượt quá quân đội của nhà nước Jordan, dẫn đến sự hiềm khích của Husayn, Quốc vương Jordan; mâu thuẫn giữa Jordan và PLO thêm trầm trọng. Cuối cùng, Husayn đã quyết định giải quyết vấn đề PLO. Chiến tranh toàn diện hai bên nổ ra. Đây chính là sự kiện “Tháng 9 đen”.

Sau đó, vì Arafat lấy Libăng làm căn cứ và không ngừng tập kích Israel, tháng 6/1982, Israel tiến công lớn vào Libăng với ý đồ tiêu diệt PLO. Để duy trì lực lượng, Arafat quyết định rời khỏi Libăng. Qua sự hòa giải của Liên Hiệp Quốc, 1,2 vạn chiến sĩ của Arafat  phải phân tán đến 8 quốc gia Arập, Tổng bộ PLO rời đến Tunisi. Cuối năm 1983, xung đột giữa PLO với Syria ở miền Bắc Liban lại nổ ra khiến PLO thêm tổn thất.

Người cổ Ai Cập đã sáng tạo ra chim lửa tượng trưng cho sự vĩnh hằng bất diệt, Yasser Arafat coi mình là hóa thân của người Palestine với ước muốn như “con chim lửa” để kiến quốc.

Người chiến sĩ tay cầm cành ô liu

Cuộc đời Arafat đã làm nhiều việc, trong đó vĩ đại nhất, gian nan nhất, gây tranh luận nhiều nhất cho đến nay vẫn chưa thành công, đó là lựa chọn con đường đem lại cho đồng bào của ông về chính trị và giải quyết xung đột Palestine - Israel. Arafat đã  nói: “Tôi đang cầm cành ô liu, cũng là đang cầm súng của một chiến sĩ tự do”. Những năm 90 của thế kỷ trước, cành ô liu lần đầu tiên thắng cây súng.

Ngay khi được bầu làm người đứng đầu Nhà nước Palestine, Arafat đã công nhận sự tồn tại của Israel. Từ tháng 1/1993, Palestine - Israel bắt đầu những cuộc đàm phán gian khổ.

Nhưng, muốn Israel nhả ra phần mà họ đã lấy là rất khó; muốn thuyết phục người anh em Arập và đồng bào của ông nhẫn chịu hiện thực không công bằng và muốn tiêu trừ tâm lý thù hận, ngờ vực lẫn nhau giữa hai dân tộc đã từng đối kháng hàng thế kỷ lại càng khó hơn. Ngoài ra, điều hòa quan hệ nội bộ PLO nhất trí quan điểm trong đàm phán với Israel cũng không phải đơn giản.

Arafat đã nhẫn nại không biết mệt mỏi, chạy như con thoi đến các nước lớn của Arập. Cuối cùng, xuất phát từ so sánh thực tế lực lượng giữa Palestine - Israel, ông đã đưa ra một số nhượng bộ không thể xem thường, đột phá cục diện bế tắc. Ngày 20/8/1993, tại Oslo, hiệp định khung cho Palestine thực hiện tự trị ở Gaza và Jiericho đã được ký.

Ngày 9/9/1993, Palestine - Israel thừa nhận lẫn nhau. Arafat trong nụ cười kiên định, bắt tay Thủ tướng Israel Rabin, chính thức ký hiệp định hòa bình mang tính lịch sử. Một năm sau, Arafat đã cùng với Rabin nhận giải thưởng Nobel hòa bình.--PageBreak--

Dưới sự thúc đẩy của Arafat và Rabin, tiến trình hòa bình Palestine - Israel đã ấm dần lên. Ngày 12 và 13/5/1994, lực lượng Palestine đã lần lượt tiến vào đóng ở Gaza và Jiericho. Ngày 18/5/1994, Quân đội Israel về cơ bản đã rút khỏi 2 nơi trên, kết thúc 27 năm chiếm lĩnh 2 nơi này. Cuối năm 1995, Quân đội Israel tiếp tục rút khỏi 6 thành phố khác, trong đó có Jinin, Napulusi và Ramala.

Ngày 11/7/1994, Arafat kết thúc cuộc sống lưu vong trường kỳ và trở về Gaza. Ngày 20/1/1996, Palestine thực hiện tuyển cử lần đầu tiên, Arafat với 87% phiếu bầu, trúng cử Chủ tịch cơ quan quyền lực PLO; Chính phủ Palestine tự trị đã khống chế 42% diện tích 2 bờ sông Jordan (trong đó 1/2 là đồng quản lý với Israel); mô hình thu nhỏ của một quốc gia đã xuất hiện.

Nhưng, mỗi khi hòa bình Palestine - Israel có tia hy vọng thì lại có sự phá hoại cực đoan để rơi vào vòng xoáy. Tháng 11/1995, một phần tử cực đoan cánh hữu Israel đã ám sát Thủ tướng Israel Rabin. Đối với Arafat đây là một đòn nặng nề. Tiến trình hòa bình có xu thế tan vỡ. Việc đàm phán với thủ tướng kế nhiệm Rabin rơi vào cục diện bế tắc, bạo lực, xung đột lại dần dần nổi lên mãnh liệt. Hy vọng kiến lập Palestine độc lập đứng trước nhiều khó khăn, thử thách.

Người con của Palestine

Cũng giống như tất cả các sự việc xảy ra có liên quan tới Arafat; sự ra đời của ông cũng là câu đố khó giải. Mặc dù trên chứng minh khai sinh đã ghi: Arafat sinh tại Cairo, nhưng Arafat một mực cho rằng, mình sinh ra ở Jerusalem, trong một ngôi nhà với 13 tảng đá lớn xếp thành. Gian nhà này kề sát “bức tường khóc” - tượng trưng cho sự tôn kính nhất, cổ kính nhất mà Vương triều cổ Do Thái tồn giữ trước đây 3.000 năm. Đồng thời cũng là công trình kiến trúc được xếp hạng “tiêu trí Tông đồ thần thánh”.

Theo thuyết pháp này, Arafat từ nhỏ là một cậu bé tràn đầy nhiệt huyết, “gánh thân thiên mệnh”. Một con người sinh ra có cội nguồn với người Do Thái và lịch sử cổ Arập. Trong những năm tháng đấu tranh vì mưu cầu giải phóng dân tộc, Cơ quan tình báo Mossad (Israel) liên tục truy lùng Arafat; mấy chục người bên ông cũng luôn bị kẻ ác tìm cách đầu độc.

Có thể nói, Arafat đi đến đâu, Mossad truy lùng đến đấy. Máy bay của Israel giống như con mắt dài, luôn theo dõi nơi đến của Arafat để oanh tạc. Rất nhiều lần Arafat đã rơi vào cạm bẫy tưởng như “mười phần chết chín”, nhưng nhờ giác quan thứ 6 mà ông đều thoát khỏi thiên tai, địch họa, bình an khỏe mạnh. Ngay cả đối thủ của ông cũng nhiều lúc phải thốt lên: đây chỉ có thể là “9 mệnh hồn mèo” được Chân chủ (thần duy nhất của Islam) che chở.

Mấy chục năm “luồng dao ánh kiếm”, vào cuối đời, Arafat lại đứng trước khó khăn về công việc và sinh mệnh. Ngày 28/9/2000, vì Sharon, người lãnh đạo đương nhiệm Israel đã trèo lên núi thánh của thành cổ Jerusalem (phía Palestine gọi là “nơi tôn nghiêm cấm kị”), nên lại dẫn đến xung đột bạo lực giữa Palestine - Israel.

Từ tháng 12/2001, Arafat bị quân Israel giam lỏng trong dinh thự Ramallah. Sharon đã đưa ra đe dọa: chỉ cần Arafat ra ngoài một bước, thì quân Israel sẽ tiến vào bắt toàn bộ người trong dinh. Arafat đã từng là “ngựa không bao giờ dừng chân” như con thoi trong các nước trên thế giới, thì nay, ngay cả khi tiễn khách cũng chỉ đưa đến cửa văn phòng tòa dinh thự.

Hiện nay, đến dinh thự Arafat ở Ramallah trên Bờ Tây, ấn tượng sâu sắc nhất là sự tàn phá đổ nát. Tòa nhà mà Arafat sống giống như một công sự phòng ngự; tất cả cửa sổ phòng làm việc của Arafat đều được xếp chèn các bao cát để phòng sự đánh lén của những tay súng Israel bao vây bên ngoài. Arafat đã 75 tuổi, cũng bắt đầu bị bệnh tật giày vò. Nhiều lúc, đôi môi ông run lên, trên da xuất hiện các đốm trắng. Ông rất cần ánh sáng, thỉnh thoảng có 2 vệ sĩ “hộ giá” ông đi ra chỗ khoảng không của khu dinh thự để ngồi tắm nắng 1-2 tiếng đồng hồ.

Sự giày vò của bệnh tật đã khổ, nhưng sự giày vò về tinh thần còn khổ hơn nhiều. Đối với một chiến sĩ, đau khổ nhất là giảm đi sức chiến đấu; đối với nhà chính trị, đau khổ nhất là chưa đạt được lý tưởng của mình. Thời Tổng thống Bill Clinton, ông đã là nguyên thủ nước ngoài được Nhà Trắng mời đến thăm nhiều lần. Nhưng thời Tổng thống Bush, ông Bush chẳng những chưa quen mặt Arafat mà ngược lại còn tán thành việc thay đổi ông.

Trung tuần tháng 9/2003, tái nguy cơ xung đột Palestine - Israel, nội các Israel đã đưa ra quyết định “trên nguyên tắc” trục xuất Arafat. Đến đây, Arafat bị kẻ thù lâu năm một lần nữa dồn vào khó khăn.

Điều khiến cho thế giới xúc động là, con người Arafat luôn sống trong sự bao vây của binh lính Israel, bị cách ly với bên ngoài nhưng mọi người vẫn nhìn thấy ánh mắt kiên định của một ông già trên 70 tuổi trong ánh sáng của ngọn nến, nghe thấy tiếng của ông: “Thà làm liệt sĩ, chứ không để người nào bắt tôi đi. Tôi sẽ mãi ở trên Tổ quốc tôi, và trên mảnh đất tổ tiên tôi đã sống”.

Sự tích anh hùng của Yasser Arafat cũng là lịch sử bi tráng của Palestine. Cuộc đời của ông, đã cùng vận mệnh Palestine hòa quyện chặt chẽ, đi trên một con đường. Trước ngày Arafat được đưa sang Paris (29/10/2004), người ta đã đồn nhiều về bệnh tật của ông, nhưng đây là lần ngã bệnh nghiêm trọng nhất từ trước tới nay, khiến Arafat không thể không tạm rời dinh thự Ramallah đi cấp cứu. Đến Paris, trong giây phút hiểm nghèo, Arafat đã nói, nếu vì số phận phải qua đời, hãy cho ông được yên nghỉ tại quê hương đất thánh mà ông từng sống và chiến đấu.

Vào lúc 9 giờ 30 phút sáng 11/11, ông Arafat đã trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện quân đội Paris, Pháp, để lại niềm tiếc thương vô hạn đối với PLO, nhân dân Palestine và những người yêu chuộng hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ trên thế giới. Ông mãi mãi là người anh hùng của nhân dân Palestine, người chiến sĩ vì hòa bình của thế giới

Nguyễn Mau - Thảo Lê (tổng hợp theo báo nước ngoài)
.
.
.