Bi kịch Suharto

Thứ Hai, 18/02/2008, 08:30
Ở tuổi 86, sau không chỉ một năm phải sống trong tình trạng trọng bệnh và dưới "thanh gươm Democles" của bản án buộc tội tham nhũng và độc tài, cựu Tổng thống Indonesia, Suharto đã qua đời ngày 21/1/2008. Cái quan định luận đã vang lên nhiều ý kiến khác nhau về công lao và sơ sảy chính trị của ông Suharto.

Tuy nhiên, muốn nói gì thì nói, nếu ông Suharto hoàn toàn là một nhân vật đen tối như một số phương tiện thông tin đại chúng muốn tô vẽ thì có lẽ đương kim Tổng thống Indonesia, Susilo Bambang Yudhouono đã không tuyên bố 7 ngày quốc tang cho ông Suharto, bắt đầu từ ngày 27/1.

Bản lĩnh cao cường

Ông Suharto sinh ngày 8/6/1921 trong một gia đình nông dân trồng lúa tại làng Goedan thuộc một tỉnh nằm ở miền Trung đảo Java. Trước khi gia nhập quân đội, vị Tổng thống tương lai của "quốc gia nghìn đảo" từng phải làm chân chạy loong toong trong ngân hàng.

Cuộc đấu tranh chống lại ách thực dân của Hà Lan đã biến chàng trai yêu nước Suharto từ một người lính của quân đội thực dân Hà Lan thành một chiến sĩ chống lại những kẻ chiếm đóng. Từ tháng 8/1945, khi Indonesia tuyên bố độc lập cho tới năm 1949, Suharto đã cầm súng chống lại những tên lính thực dân quay lại định thôn tính Indonesia thêm một lần nữa.

Khi đất nước Indonesia được giải phóng năm 1949, Suharto đã ở cương vị chỉ huy tiểu đoàn. Hoạn lộ quân sự của ông trong gần một thập niên tiến triển tương đối suôn sẻ nhờ bản lĩnh cao cường của cá nhân ông cũng như những vận hội không định mà thành của thời cuộc.

Tuy nhiên, vào cuối những năm 1950, Suharto đặp phải tai họa không nhỏ khi vị Tư lệnh Quân đội Indonesia lúc đó là Abdul Haris Nasution đã buộc cho ông tội tham nhũng qua việc ưu đãi cho các hợp đồng đấu thầu những công vụ quân sự.

Tuy nhiên, nhờ tài khéo léo xoay xở mà Suharto đã vượt qua được cơn bão này và tới năm 1962, ông đã được phong quân hàm thiếu tướng. Từ đó, ngôi sao chiếu mệnh của ông Suharto ngày càng tỏa sáng.

Năm 1963, ông Suharto đã được đưa lên chức Phó Tổng tham mưu trưởng và chỉ huy lực lượng dự trữ chiến lược của quân đội Indonesia dưới thời Tổng thống Sukarno. Cơ hội có một không hai và mang lại quyền lực tuyệt đối cho ông Suharto đã tới khi vào tháng 9/1965, một bộ phận trong giới quân sự Indonesia âm mưu đảo chính và cùng một lúc sát hại một cách bí ẩn sáu vị tướng, vứt xác họ xuống một chiếc giếng bỏ hoang và tuyên bố giải tán chính phủ.

Người duy nhất còn lại từ đội hình chỉ huy cao cấp của quân đội Indonesia là ông Suharto và ông đã tập trung được những đơn vị còn trung thành với mình để đảo ngược thế cờ và giành lấy quyền thực tế lãnh đạo đất nước, đồng thời tự phong mình lên chức đại tướng bốn sao, mặc dù sau cuộc đảo chính bất thành trên, ông Sukarno vẫn còn làm Tổng thống thêm gần nửa năm nữa…

Trong tham vọng duy trì quyền lực tối thượng của mình, Tổng thống Sukarno đã "nuôi ong tay áo" khi trọng dụng ông Suharto. Chính ông Suharto với sự đồng tình của Tổng thống Sukarno đã buộc cho Đảng Cộng sản Indonesia, lúc đó rất có ảnh hưởng ở "quốc gia nghìn  đảo" trách nhiệm chính về vụ đảo chính năm 1965 và mở một đợt tiễu phạt được coi là ghê rợn ở Đông Nam Á từ sau chiến tranh thế giới thứ hai cho tới khi xảy ra cuộc diệt chủng của Khơme Đỏ ở Campuchia, làm chết từ 700 nghìn tới một triệu người.

Đã làm được một bước tiến lớn trong công cuộc được gọi là dẹp loạn, ông Suharto dĩ nhiên không chịu tiếp tục đứng ở vị trí phụ thuộc mà muốn vươn lên ngôi vị cao nhất của đất nước.

Và yếu thế là yếu lực, tới tháng 3/1967, cực chẳng đã, Tổng thống Sukarno đã chuyển giao quyền lực của mình cho ông Suharto (sau vụ việc này, ông Sukarno phải sống trong cảnh bị giam lỏng tại gia và mất vào năm 1970).

Ngay ngày hôm sau, Đảng Cộng sản Indonesia đã bị cấm hoạt động. Năm 1968, ông Suharto lần đầu tiên được chính thức bầu làm Tổng thống Indonesia. Về sau, ông còn được tái đắc cử vào chức vụ này thêm 6 lần nữa.

Trong suốt thời gian diễn ra chiến tranh lạnh, ông Suharto được coi là một trong những đồng minh tin cậy của Mỹ ở Đông Nam Á. Chính vì thế nên Washington đã "mũ ni che tai" trước mọi vụ việc vi phạm nhân quyền ở Indonesia.

Mỹ thậm chí vẫn ngậm hột thị trước việc Jakarta chiếm đóng Papua bằng bạo lực vào năm 1969 và năm 1974, sáp nhập vùng đất từng là thuộc địa của Bồ Đào Nha là Đông Timor vào thành một tỉnh của mình (hiện nay, Đông Timor là một quốc gia độc lập, thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, ASEAN)…

Lẫn lộn tội công

Nhìn nhận một cách công bằng, ông Suharto là một trong những chính trị gia ẩn chứa nhiều mâu thuẫn nhất trong nền chính trị hiện đại không chỉ riêng ở Indonesia mà ở cả những quy mô rộng lớn hơn. Ông từng chèo lái con thuyền "quốc gia nghìn đảo" trong suốt  ba thập niên liền và đã vực được đất nước này từ vực thẳm lạc hậu và hỗn độn lên trên đỉnh phát triển và thịnh vượng một cách rõ rệt. Đồng thời, ông đã thể hiện tất cả những sự quyết liệt và thậm chí là tàn bạo của một chính trị gia "máu lạnh" trong quá trình tập trung quyền lực tuyệt đối vào tay mình, đặc biệt là vào những năm 60 của thế kỷ trước.

Khi ông Suharto lên làm Tổng thống, nền kinh tế Indonesia đang ở trong tình trạng suy kiệt. Hai phần ba ngân sách nhà nước phải chi cho việc nuôi quân đội và bộ máy viên chức nhà nước. Đại bộ phận nhân dân Indonesia phải sống dưới mức nghèo khổ thông thường.

Tổng thống Suharto đã khôn khéo lợi dụng những mâu thuẫn quốc tế thời chiến tranh lạnh để thu hút về mình sự hỗ trợ của các thể chế kinh tế và tài chính phương Tây. Nhờ thế, chỉ trong một thời gian không dài, bộ mặt phát triển của Indonesia đã có những thay đổi rõ rệt. --PageBreak--

Nhóm cố vấn tinh hoa gần gụi với ông Suharto, từng được đặt hỗn danh là "Băng đảng Mafia Berkeley" (Berkeley là tên một trường đại học nổi tiếng ở California mà nhóm trí thức này từng theo học) đã đưa ra những toa thuốc khá hiệu nghiệm để chuyển hóa nền kinh tế Indonesia nhờ nhiều tỉ USD đầu tư của ngân khố của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB).

Cơn sốt "vàng đen" diễn ra từ cuối những năm 60 từ thế kỷ trước cũng được ông Suharto tận dụng triệt để. Toàn bộ ngành công nghiệp dầu mỏ được quốc hữu hóa. Lợi nhuận kếch xù thu được từ đó đã được đích thân Tổng thống chuyển vào các chương trình phát triển xã hội và hỗ trợ ngành nông nghiệp.

Năm 1967, Indonesia trở thành một trong những nước đưa ra sáng kiến sáng lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)… Đời sống người dân được cải thiện rõ rệt.

Đồng thời với những sự việc trên, theo tư duy phương Đông, Tổng thống Suharto đã không ngừng củng cố cơ chế độc diễn của mình. Và phải nói rằng, theo đánh giá của không ít nhà quan sát, trong hoàn cảnh cụ thể của Indonesia thời đó, cách điều hành quốc gia của ông Suharto đã đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định ở một đất nước mà trên phương diện địa lý, bị chia cắt thành nhiều hòn đảo như Indonesia…

Công bằng đánh giá,  ông  có quyền tự coi mình như là "người cha phát triển kinh tế". Bản thân ông cũng là một người sống tương đối tùng tiệm. Thế nhưng, những "cận thần" của ông lại ít giống như ông. Chính họ đã lợi dụng uy tín và quyền lực của "chủ soái" để tư lợi.

Theo đánh giá của WB, những người thân cận của ông Suharto đã biển thủ khoảng từ 20% tới 30% các quỹ phát triển của đất nước này. Họ cũng nắm giữ phần lớn công lực của nền kinh tế Indonesia. Một trong sáu người con của ông Sukarto làm chủ một tập đoàn tập trung tới 90 công ty, còn một người con khác  kiểm soát một công ty dầu mỏ lớn…

Ngày tàn của trưởng lão

Quyền lực tuyệt đối của ông Suharto đã kết thúc vào năm 1998, khi tuyệt đại bộ phận các nước Đông Nam Á lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế. Những khó khăn đời sống đã buộc người dân Indonesia phải nhìn thấy rõ hơn các khiếm khuyết của chế độ Suharto và thế là hỗn loạn bùng nổ. Giọt nước tràn ly là khi ông Suharto lại ra ứng cử Tổng thống và lại tái đắc cử lần thứ bảy(?!).

Các cuộc biểu tình của sinh viên và đặc biệt là chuyện hai  sinh viên bị binh lính bắn chết đã đẩy "quốc gia nghìn đảo" vào tình trạng vô chính phủ đẫm máu. Chỉ trong ba ngày quân hồi vô phèng đã có tới 12 nghìn người thiệt mạng. Bị dồn vào thế bí, ông Suharto  buộc phải từ chức sau ba thập niên ngồi trên ngôi vị cao nhất ở Indonesia

Họa vô đơn chí, từ đó tới nay, Indonesia liên tục phải sống trong tình trạng bất ổn, mặc dầu đã không chỉ có một vị Tổng thống mới được bầu. Nạn tham nhũng trầm trọng vẫn không suy giảm so với thời trước. Không ít người dân Indonesia nhớ lại quá khứ dưới thời cầm quyền của ông Suharto như một ký ức đẹp, khi tình hình an ninh nhìn chung là ổn định và giá các nhu yếu phẩm luôn ở mức phải chăng…

Bản thân ông Suharto cũng buộc phải ẩn mình trong ngôi biệt thự đầy bóng mát ở Jakarta để tránh bị đưa ra tòa vì tội tham nhũng và độc tài. Các con ông thì không được may mắn thế mà phải đối mặt với nhiều bản án khác nhau. Sức khỏe của ông cứ suy sụp dần. Tới tháng 4/2007, ông Suharto phải vào viện khi thận, tim và phổi của ông ngừng hoạt động.

Cuối cùng, ông đã qua đời vào ngày 21/1/2008. Ngay ngày hôm sau, xác ông đã được chôn tại nghĩa trang gia đình ở trên đảo Java, ngay cạnh mộ của vợ ông (mất năm 1996). Người con gái trưởng của ông Suharto, bà Tutut đã lên tiếng khẩn cầu giữa nước mắt rằng: "Xin Thượng đế ban phước lành và tha thứ những lỗi lầm của cha tôi".

Cách đây vài ba năm, khi sang thăm Indonesia và vào vấn an ông Suharto, cựu Thủ tướng Singapore, Bộ trưởng Cao cấp Lý Quang Diệu đã nhận xét: "Đúng là ở Indonesia đã có tham nhũng. Đúng là ông Suharto đã giúp đỡ gia đình, bè bạn. Nhưng cũng đúng là đã có một bước phát triển thực tế ở Indonesia thời đó"

Hoàng Tuấn
.
.
.