Ẩn số còn lại từ cái chết
Hải trình định mệnh
Sau kết thúc của cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại năm1945, hạm đội tàu thương mại của Moskva đã được nhận hàng loạt những con tàu vốn của nước Đức phát xít bại trận. Trong số này có tàu Iberia, được đổi tên thành Pobeda sau khi được tu sửa và bảo dưỡng tại Đức. Đó là một con tàu lớn, có thể chở được 340 hành khách và khoảng 4.000 tấn hàng hóa. Trong thời gian tu sửa ở Đức, nó đã được nâng cấp và có tới 600 chỗ dành cho hành khách…
Ngày 31/7/1948, tàu Pobeda với 323 hành khách và 277 tấn hàng hóa trên boong đã rời khỏi cảng
Ngày 1/9/1948, trạm điện đài của Hãng tàu Biển Đen nhận được bức điện tín từ tàu Pobeda báo tin đã qua Novorosisk và sẽ cập bến Odessa vào lúc 14h ngày 2/9. Từ đó trở đi con tàu không hề bắt liên lạc nữa. Thoạt tiên thì điều này không khiến ai phải lo lắng cả. Chỉ tới sáng ngày 2/9 người của Hãng tàu Biển Đen mới đánh điện hỏi các con tàu và hải cảng nằm trong hải trình của Pobeda thì mới biết là không có ai liên lạc được với con tàu này và cũng không thấy có tín hiệu SOS trên sóng. Bộ Tư lệnh Hạm đội Hắc Hải đã phát lệnh cho các máy bay tìm kiếm cất cánh, và tới 21h có một phi công thông báo là đã phát hiện ra con tàu bị cháy rụi ở địa điểm cách Yalta 70 km; cạnh đó có 5 cái xuồng chở đầy người.
Ngày 5/9/1948 trên trang cuối báo Sao Đỏ (cơ quan ngôn luận của các lực lượng vũ trang Liên Xô) đăng đoạn tin ngắn của Thông tấn xã Nhà nước TASS: “Từ đầu tháng 8 tàu Pobeda đã khởi hành từ
Cuộc điều tra kín đã kéo dài trong vài tháng. Và như cơ quan điều tra phát hiện, ngày 1/9/1948, vào lúc gần 13 h, tàu Podeba đã đi ngang qua cảng Novorosisk. Ở thời điểm đó, nhân viên điện đài thực hiện nhiệm vu:å người chiếu phim trên tàu Kovalenko đã quyết định chuẩn bị gom những cuốn phim đã mượn của phòng văn hóa mang theo trong chuyến đi để trả lại nên đã nhờ thủy thủ Skripnikov tua lại cuốn phim vừa chiếu trước đó. Các cuốn phim này được bảo quản ở một phòng kho nhỏ nằm ở giữa tàu. Một phần các cuốn phim đã được xếp gọn trong hộp kẽm, một phần khác, cần phải tua lại, thì nằm ở giữa bàn.
Cũng trong phòng kho này còn có gần 2 nghìn đĩa hát nhựa. Khoảng gần 15 h, trong lúc cuộn phim được tua bằng máy quay tay thì bỗng nhiên nó phát lửa và bốc cháy. Những cuộn phim nằm gần nó cũng bén lửa. Sau vài giây ngọn lửa đã bùng lên khắp phòng kho, làm cháy cả quần áo anh lính thủy. Skripnikov đã lao ra khỏi phòng kho, đóng sập cửa lại và vừa chạy theo hành lang vừa kêu cứu. Hơi nóng trong phòng kho làm cửa bật tung ra và ngọn lửa hung dữ đã thiêu đốt các tấm thảm trải sàn và vách các khoang làm từ gỗ ván. Thảm họa bắt đầu bùng nổ… Các thủy thủ trên tàu đã phải rất nỗ lực mới dập tắt được đám cháy chính trên tàu. Tới đêm ngày 3/9, khi những người cứu hộ tới được nơi con tàu bị nạn thì mọi sự đã tương đối ổn thỏa. Con tàu vẫn có thể tự bơi được.
Tới ngày 5/9, tàu cập bến cảng
Đầu năm 1949 đã diễn ra phiên tòa xử kín những thủ phạm gây nên đám cháy trên tàu Pobeda. Thuyền trưởng và anh thợ chiếu phim đã bị xử 15 năm tù… Những người khác có liên quan đều phải nhận những bản án nặng nề…
Tướng tài thời loạn
Theo tờ báo Nga Sovershenno Sekretno (Tuyệt mật), có thể bản án dành cho những thành viên đoàn thủy thủ trên tàu Pobeda không đến nỗi nặng như thế nếu trong số nạn nhân của vụ cháy trên tàu không có Nguyên soái Trung Hoa Phùng Ngọc Tường. Việc ông nguyên soái quân phiệt Trung Hoa này tới Liên Xô khi đó đã được biết tới ở Điện Kremli. Và chuyến đi này là để thực thi một sứ mệnh rất quan trọng, liên quan tới tương lai của nước Trung Hoa láng giềng đang ở trong đêm trước của một sự kiện lịch sử quan trọng bậc nhất thế kỷ XX. Một số chiến lược gia trong Điện Kremli, trong đó có cả lãnh tụ Stalin ở thời điểm đó cho rằng, Phùng Ngọc Tường là một nhân vật thích hợp để giữ một vị trí quan trọng trong bộ máy chính quyền mới của Trung Quốc…
Phùng Ngọc Tường sinh ngày 6/11/1882 ở An Huy trong một gia đình nghèo theo đạo Thiên chúa. Theo những tư liệu hiếm hoi còn lại tới ngày nay cho biết cha ông là một người thợ đá, có thể đã tham gia quân đội nhà Thanh. Phùng Ngọc Tường bắt đầu cuộc đời quân ngũ từ năm 16 tuổi, có thể cũng là nối nghiệp cha. Thời trẻ, ông từng sang Mỹ và kiếm sống bằng nghề kinh doanh hàng Tàu ở Seatle…
![]() |
| Các quân phiệt một thời quần thảo Trung Hoa. |
Năm 1910, Phùng Ngọc Tường tốt nghiệp Học viện Quân sự Bảo Định tại Bắc Kinh (đây cũng là nơi đào tạo các “tinh hoa quân phiệt Trung Hoa” trong những thập niên đầu thế kỷ XX). Trong thời gian bùng nổ cách mạng Tân Hợi (1911), ông tham gia đội quân Bắc Dương của nhà độc tài ham quyền lực và rất nhiều tham vọng Viên Thế Khải, đấu tranh nhằm lật đổ triều đình nhà Thanh.
Sau khi Viên Thế Khải mất ngày 6/6/1916, quân đội Bắc Dương bị chia rẽ thành nhiều phe phái do các quân phiệt hùng cứ các phương đứng đầu, chém giết lẫn nhau để tranh giành quyền lực. Trong số này nổi lên ba lực lượng chính: đó là phe An Huy (Hoãn Hệ) do Đoàn Kỳ Thụy đứng đầu; phe Phụng Thiên (Phụng hệ) do Trương Tác Lâm đứng đầu và phe Trực Lệ (Trực Hệ) do Phùng Quốc Chương đứng đầu. Trong những năm cuối của thập niên thứ hai thế kỷ XX, phe Hoãn Hệ của Đoàn Kỳ Thụy đã khống chế được chính quyền Bắc Kinh nhưng do lực lượng không quá mạnh nên buộc phải liên kết với phe Trực Lệ để duy trì sự ổn định tương đối trong một nước Trung Hoa đang bị giày vò bởi nạn quân phiệt nặng nề. Tuy nhiên, bằng mặt nhưng không hoàn toàn bằng lòng, hai lực lượng này lại xung đột với nhau trong đối sách với phương Nam, vì Đoàn Kỳ Thụy chủ trương chinh phạt nhưng Phùng Quốc Chương lại muốn đàm phán.
Tháng 12/1919, Phùng Quốc Chương chết vì bệnh ở tuổi 60 và quyền lãnh đạo Trực Lệ chuyển sang Tào Côn với sự ủng hộ của Ngô Bội Phu và đàn em của ông này là Tôn Truyền Phương. Một giai đoạn mới trên chính trường Trung Hoa đã bắt đầu. Chính Tào Côn và Ngô Bội Phu đã công khai tiến hành hàng loạt những hành động quyết liệt chống lại Đoàn Kỳ Thụy và Hoãn Hệ, liên tiếp tung ra những bức điện chứng minh sự hợp tác của ông ta với quân Nhật Bản. Cây muốn lặng nhưng gió chẳng đừng, Đoàn Kỳ Thụy cũng bắt đầu chuẩn bị chiến tranh chống lại Trực Lệ…
Tháng 7/1920, chiến tranh Trực – Hoãn bùng nổ. Lúc này, Ngô Bội Phu nắm quyền Tổng Tư lệnh quân đội (bao gồm cả lực lượng Phụng Thiên của Trương Tác Lâm) chống lại Hoãn Hệ. Mặc dù quân đội của Đoàn Kỳ Thụy được huấn luyện và trang bị vũ khí từ phía Nhật nhưng vẫn bị đánh cho tan tác bởi lực lượng của Ngô Bội Phu. Lúc đầu, chiến sự bất lợi cho Trực Lệ khi họ bị quân Hoãn Hệ đẩy lùi trên tiền tuyến. Tuy nhiên, Ngô Bội Phu quyết định thực hiện một cuộc tấn công liều lĩnh ở mũi phía tây mặt trận khi đánh dọc sườn quân địch rồi tấn công thẳng vào tổng hành dinh địch. Đòn này thành công và Ngô Bội Phu giành thắng lợi lớn, bắt giữ nhiều sĩ quan trong tổng hành dinh đối phương. Sau đó, quân Hoãn Hệ tan rã trong một tuần và Đoàn Kỳ Thụy bắt buộc phải trốn vào tô giới Nhật ở Thiên Tân. Uy tín của Ngô Bội Phu vì thế cũng gia tăng…
Thế nhưng, sau khi giành được chiến thắng, mâu thuẫn lại tái diễn giữa Ngô Bội Phu và Trương Tác Lâm vì những bất đồng trong đối sách với quân đội Nhật đang xâm lược Trung Hoa. Vì thế đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới (lần thứ nhất) giữa Trực Lệ với Phụng Thiên. Chiến sự đã diễn ra trên mặt trận phía nam Bắc Kinh và Thiên Tân từ tháng 4 tới tháng 6/1922.
Tài năng quân sự kiệt xuất của Ngô Bội Phu đã giúp Trực Lệ giành được chiến thăng trước đội quân được trang bị tốt hơn của Trương Tác Lâm, buộc Phụng Thiên phải rút quân ra ngoài Sơn Hải Quan, bỏ lại thủ đô cho quân Trực Lệ.
Được tiếng là toàn thắng, nhưng từ giữa năm 1922, Trực Lệ chỉ kiểm soát được một chính phủ không có mấy quyền hành với các tỉnh vì khu vực Mãn Châu vẫn nằm dưới quyền cai quản rất chắc của Trương Tác Lâm và Phụng Thiên, trong lúc phương nam vẫn tiếp tục bị chia cắt giữ các thế lực quân phiệt, bao gồm các thế lực tàn dư Hoãn Hệ và Quốc dân đảng của Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn). Thêm vào đó, ở đỉnh cao quyền lực, giữa hai lãnh đạo hàng đầu của Trực Lệ là Tào Côn và Ngô Bội Phu lại nảy sinh khúc mắc và quan hệ của họ dần dà trở nên căng thẳng, dù không dẫn đến rạn nứt trong nội bộ… Mặc dù trên danh nghĩa vẫn là thủ lĩnh Trực Lệ nhưng Tào Côn lại không có được uy danh chiến tướng lỗi lạc như Ngô Bội Phu. Mặc dù thế, họ Ngô cũng đã không ngăn nổi họ Tào trong những nỗ lực để trở thành Tổng thống vào tháng 10/1923.
Chính trong giai đoạn này, những năng lực cá nhân xuất sắc đã giúp Phùng Ngọc Tường thăng tiến khá nhanh trong phe Trực Lệ. Dần dà, ông còn tạo dựng được cho mình một sự tự lập khá lớn trước các thủ lĩnh miền bắc và hùng cứ ở thành phố Thiểm Tây từ năm 1917. Phùng Ngọc Tường đã huấn luyện quân sĩ dưới quyền theo kỷ luật sắt kết hợp với chủ nghĩa gia trưởng trong tư tưởng Xã hội - Thiên chúa giáo mà ông đi theo. Với ông, làm lính là phải làm sao cho xứng danh là tôi tớ của dân chúng. Ông rất khe khắt trong việc rèn binh, luyện cán để duy trì quân phong và quân kỷ. Phùng Ngọc Tường được coi là “ông tổ” của các tập đoàn quân Tây Bắc, đội quân dưới quyền ông được gọi là Quốc dân quân… Ông đã cải đạo cho toàn bộ lực lượng của mình sang Thiên chúa giáo. Nhà truyền giáo Tin lành người Anh Marshall Broohall trong cuốn sách viết về Phùng Ngọc Tường năm 1923 đã gọi ông là “người lính tốt của chúa Jesus”.
Chọc trời khuấy nước
Tới đầu thập niên thứ hai của thế kỷ XX. Những hiểm họa từ phương nam rốt cuộc lại dẫn nước Trung Hoa tới bùng nổ một cuộc chiến tranh mới giữa Trực Lệ với Phụng Thiên năm 1924, mặc dù có vẻ như quyền lực của Trực Lệ dần dà được củng cố.
Ngòi nổ dẫn tới bột phát bạo lực là Thượng Hải, trung tâm tài chính của nước Trung Hoa thời đó. Thành phố này vốn thuộc tỉnh Giang Tô, nằm dưới quyền chi phối của Trực Lệ, nhưng lại do Chiết Giang thuộc thế lực của tàn dư Hoãn Hệ quản lý. Khi Trực Lệ đòi trả lại Thượng Hải, họ bị từ chối, và xung đột bùng nổ. Trương Tác Lâm ở Mãn Châu và Tôn Dật Tiên ở Quảng Đông đã nhanh chóng ủng hộ Hoãn Hệ và chuẩn bị tham chiến. Ngô Bội Phu buộc phải phái bộ hạ là Tôn Truyền Phương xuống phía nam đối phó với Hoãn Hệ và bất cứ hành động quân sự nào có thể nảy sinh từ phía Quốc dân đảng của Tôn Dật Tiên, trong khi bản thân Ngô Bội Phu cũng phải chuẩn bị đối đầu với Trương Tác Lâm và Phụng Hệ thêm một lần nữa. Rốt cuộc là hàng trăm ngàn lính của cả hai phái đã giao tranh với nhau.
Vào đúng thời điểm quyết định đó, Phùng Ngọc Tường đã bộc lộ rõ bản chất lựa thời đắc lợi của mình. Chính vì thế nên từ chỗ vốn là một đồng minh rất quan trọng của Ngô Bội Phu, tháng 10-1924, Phùng Ngọc Tường đã rút khỏi tiền tuyến, đem quân dưới quyền mình về Bắc Kinh, chiếm thủ đô, tiến hành chính biến và lập ra một chính phủ mới trung thành với lực lượng cách mạng ở đông nam Trung Quốc. Nguyên Tổng thống Tào Côn bị giam vào lầu Diên Khánh và nhà ngoại giao Hoàng Phu thuộc phái dân sự đã được Phùng Ngọc Tường tôn lên nắm quyền Tổng thống. Bị lạnh lưng như thế nên đội quân Trực Lệ của Ngô Bội Phu đã bị núng thế và phải cam chịu thất bại lớn trước Trương Tác Lâm trong một trận huyết chiến mang tính quyết định ở Thiên Tân.
Chính ở thời điểm đó, Phùng Ngọc Tường đã liên lạc với Moskva yêu cầu trợ giúp. Nhìn nhận rõ những triển vọng hữu lợi trong quan hệ với Phùng Ngọc Tường, mặc dù cũng Tôn Dật Tiên và Quốc dân đảng trong những nỗ lực Bắc phạt, Điện Kremli vẫn phái cố vấn và gửi lực lượng viện binh tới giúp Phùng Ngọc Tường. Nhờ thế nên ông đã loại được các sứ quân đang hoành hành ở miền bắc…
Vốn là người tỉnh táo, biết rõ thời vận nên dù ở thế thượng phong nhưng biết mình, biết người, Phùng Ngọc Tường đã ngỏ ý mời Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn) về đàm phán (lúc này, Tôn Dật Tiên đang là Tổng thống Đặc biệt tại Quảng Đông và cũng muốn tìm một thủ đô khác). Ông cũng tìm cách thỏa hiệp với các quân phiệt Trương Tác Lâm (phe Phụng Thiên), Trương Tôn Xương và mời cả Đoàn Kỳ Thụy về làm Tổng thống. Tới ngày 5-11-1924, Phùng Ngọc Tường trục xuất phế đế Phổ Nghi của nhà Thanh ra khỏi Tử Cấm Thành… Và ông đã để cho Đoàn Kỳ Thụy lên thay Hoàng Phu mới nắm quyền Tổng thống được một tháng. Ngày 24-4-1925, vừa nhậm chức xong, Đoàn Kỳ Thụy đã cho giải tán ngay Quốc hội Dân quốc, chuyển quyền lập pháp cho Lâm thời Tham chính viện. Hành động này đã đổ thêm dầu vào ngọn lửa bất mãn chống chính phủ của giới trí thức trẻ, đặc biệt là học sinh Bắc Kinh. Những hỗn loạn bùng nổ đã vượt ngưỡng tới mức chính phủ lâm thời của Đoàn Kỳ Thụy phải sử dụng những biện pháp đàn áp dã man nhất.
![]() |
| Tôn Dật Tiên. |
Ngày 18/3/1926, chính phủ ra lệnh đàn áp phong trào phản đối, dẫn đến cuộc thảm sát đẫm máu tại Bắc Kinh. Tuy nhiên, tức nước vỡ bờ, tình hình càng trở nên hỗn loạn, đến mức ngày 9/4/1925, Phùng Ngọc Tường lại phải thêm một lần phát động chính biến. Tuy nhiên, lần này ông đã không được như ý mà còn bị mất quyền kiểm soát Bắc Kinh nên phải triệt thoái về Trương gia khẩu. Tháng 8/1925, Phùng Ngọc Tường sang Liên Xô để tìm kiếm những mối quan hệ mới với Điện Kremli. Cho tới nay vẫn không ai rõ có những cam kết gì giữa hai bên được thực hiện khi đó… Tháng 9/1925, rời Moskva về Trung Quốc, Phùng Ngọc Tường đã gia nhập Quốc dân đảng, đổi tên lực lượng quân sự dưới quyền chỉ huy của ông từ Quốc dân quân thành Quân đội nhân dân. Lúc này Quốc dân đảng đã do Tưởng Giới Thạch nắm quyền lãnh đạo. Chính Tưởng Giới Thạch đã cầm đầu những phần tử phái hữu của Quốc dân đảng, chống lại chủ trương liên minh với Đảng Cộng sản Trung Quốc của Tôn Trung Sơn.
Trong thời kỳ Chiến tranh Bắc phạt (1924-1927), Tưởng Giới Thạch nhiều lần tìm cách gạt những người Cộng sản ra khỏi các cơ quan chính quyền và quân đội… Nhập gia tùy tục, Phùng Ngọc Tường từ mùa hè năm 1927 cũng đứng ra ủng hộ Tưởng Giới Thạch cắt đứt mọi mối quan hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc…
Cũng trong năm 1927, ông được phong hàm nguyên soái. Tháng 10/1928, Phùng Ngọc Tường được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch Viện Hành pháp và Bộ trưởng Quốc phòng… Ở vị thế đó, Phùng Ngọc Tường đã có ảnh hướng nhất định tới chính sách của Tưởng Giới Thạch. Tuy nhiên, tham vọng của ông đã lớn hơn tiềm năng của ông và Phùng Ngọc Tường bắt đầu bộc lộ những khác biệt về quan điểm đối với Tưởng Giới Thạch.
Cũng ở thời điểm này, lực lượng của quân phiệt tỉnh Sơn Tây là Diêm Tích Sơn vừa chiếm được Bắc Kinh và ông này được chính quyền Tưởng Giới Thạch bổ nhiệm Bộ trưởng Nội vụ, Phó Tổng tư lệnh quân đội quốc dân. Đầu năm 1929, Phùng Ngọc Tường công khai bộc lộ những bất đồng với Tưởng Giới Thạch, hợp sức với lực lượng của Diêm Tích Sơn và Lý Tông Nhân, quân phiệt tỉnh Quảng Tây, thách thức quyền lực của Tưởng Giới Thạch. Bắt đầu từ đây mà trong năm 1930, trên đất nước Trung Hoa đã phát sinh ra cuộc đại hỗn chiến giữa các quân phiệt mới trong nội bộ Quốc dân đảng. Chống lại Tưởng Giới Thạch là liên minh do Diêm Tích Sơn - Tổng tư lệnh hải lục không quân của Trung hoa dân quốc đứng đầu, với 8 phương diện quân của quân phiệt Quảng Tây thuộc phái Diêm - Phùng do Phó tổng tư lệnh Phùng Ngọc Tường và Lý Công Nhân soái lĩnh. Cộng thêm vào đó là sự giúp đỡ ủng hộ của Uông Tinh Vệ ở Vũ Hán và sự lên tiếng ủng hộ của Phái hội nghị Tây Sơn… Rồi điều phải đến đã đến: trận hỗn chiến một mất một còn giữa các quân phiệt Quốc dân đảng đã làm tử thương trên 30 vạn người và thắng lợi đã thuộc về Tưởng Giới Thạch. Quân đội của Phùng Ngọc Tường đã hầu như bị xóa sổ chỉ trong 5 tháng ngắn ngủi.
Máu không ngừng nóng
Mặc dầu đã không còn quyền lực như xưa, nhưng trong những năm 30, Phùng Ngọc Tường vẫn không chịu bó tay thúc thủ. Ông chỉ trích chính sách nhượng bộ quân xâm lược Nhật Bản của chính quyền Tưởng Giới Thạch. Ông cũng chủ trương liên kết với Đảng Cộng sản Trung Quốc trong những nỗ lực chống ngoại xâm…
Tháng 5/1933, Phùng Ngọc Tường trở thành Tư lệnh quân kháng Nhật Sát Cáp Nhĩ cùng với các tướng Cát Hồng Xương (nguyên Tư lệnh Binh đoàn 22, Chủ tịch tỉnh Ninh Hạ) và tướng Phương Chấn Vũ (nguyên Tư lệnh đồn trú Tế Nam, Chủ tịch tỉnh An huy) với lực lượng lên tới 10 vạn người. Vào cuối tháng 7, Phùng Ngọc Tường và Cát Hồng Xương thành lập tại Trương Gia Khẩu Ủy ban khôi phục bốn tỉnh đông bắc. Đội quân này chiếm lại Đa Luân (nay thuộc Nội Mông) bị Nhật chiếm và dấy lên cao trào kháng Nhật trên cả nước. Trước tình hình đó, Tưởng Giới Thạch sợ Đảng Cộng sản sẽ nắm quyền kiểm soát các lực lượng chống Nhật nên phái 6 vạn quân đến bao vây. Bị cả quân Nhật và quân Tưởng bao vây, Phùng Ngọc Tường đành phải rút lui, về nghỉ tại Thái An, Sơn Đông.
Dù vậy, cho tới giữa những năm 1935 đến năm 1945, Phùng Ngọc Tường vẫn tiếp tục ủng hộ Quốc dân đảng. Tháng 10/1935, chính quyền Tưởng Giới Thạch mời Phùng Ngọc Tường đến Nam Kinh đảm nhận chức vụ Phó chủ tịch Hội đồng quân sự quốc gia. Ông giữ chức vụ đó đến năm 1938, sau đó tiếp tục tham gia Hội đồng quân sự quốc gia với tư cách ủy viên cho đến năm 1945. Khi xảy ra sự biến Tây An năm 1936 (Tưởng Giới Thạch khi tới Tây An đã bị hai quân phiệt là Trương Học Lương và Dương Hổ Thành bắt giữ, nhằm buộc phải hợp tác với Đảng Cộng sản Trung Quốc để cùng chống Nhật), Phùng Ngọc Tường đã lên tiếng kêu gọi trả tự do cho Tưởng Giới Thạch. Sau năm 1937, Phùng Ngọc Tường làm Tư lệnh Quân đoàn 6… Nắm trong tay một số đơn vị quân đội Quốc Dân đảng, ông đã sát cánh cùng những người cộng sản trong các hoạt động kháng Nhật, việc đã được đề cập tới không chỉ một lần trong các bài báo của Mao Trạch Đông…
Năm 1945, Phùng Ngọc Tường sang Mỹ để nghiên cứu về kinh nghiệm áp dụng chính sách kinh tế mới của Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt, trong đó có hoạt động của Cơ quan
Cũng ở trên đất Mỹ, Phùng Ngọc Tường đã đoạn tuyệt với chính phủ của Tưởng Giới Thạch và phát biểu chống lại chính sách xui nguyên giục bị của chính quyền do Tổng thống Harry Truman đứng đầu nhằm gây ra cuộc nội chiến mới giữa Quốc dân đảng và những người cộng sản Trung Quốc. Năm 1948, lực lượng Quốc dân đảng đang ngày một lấm lưng trước quân đội giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nảy sinh vấn đề về thành lập một chính phủ toàn quốc. Ở thời điểm này, Phùng Ngọc Tường đã không còn ở đỉnh cao uy lực của mình nhưng ông vẫn thực hiện được một bước biến đổi rất lớn: chuyển hẳn sang phía Đảng Cộng sản Trung Quốc…
Theo tư liệu của tờ Tuyệt mật, cũng ở thời điểm đó, nhà lãnh đạo Xô viết Stalin lại không quá tin tưởng ở vai trò cầm lái trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, coi đó là “củ cải đỏ” (ngoài đỏ, trong trắng). Hơn thế nữa, Moskva có xu hướng thiên về chính phủ đương nhiệm của Quốc dân đảng ở Trung Quốc do Tưởng Giới Thạch cầm đầu. Khi suy tư về tương lai của Trung Quốc, Stalin đã chỉ đạo xây dựng một số phương án dự bị với những nhân vật có tiềm năng trở thành đồng minh. Một trong những nhân vật như thế là Phùng Ngọc Tường.
Chính vì thế Điện Kremli có thể đã có kế hoạch tiếp xúc với Phùng Ngọc Tường, lúc đó đang sống ở
Theo một số nguồn tư liệu, Phùng Ngọc Tường là người đã có những đóng góp tích cực trong việc giải cứu lãnh tụ Hồ Chí Minh của chúng ta khi người bị Quốc dân đảng bắt giữ tháng 8-1942 khi Người thực hiện chuyến công tác tìm đến Trùng Khánh, nơi Chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch đặt trụ sở, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với cách mạng nước ta và liên lạc với các lực lượng Việt Nam đang hoạt động ở đây…


