Ai về Bình Định mà coi…

Thứ Năm, 17/02/2011, 14:45
Hôm nay, về thăm lại vùng đất võ Bình Định, mảnh đất quê hương nơi người Anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ khởi nghiệp cờ đào đánh giặc, cứu nước, tôi được sống lại với những đường roi xé gió chọc trời, được gặp lại những đại danh võ một thời và bây giờ ở vùng đất anh hùng. Có thể nói vùng đất anh hùng ấy đã bao đời nay hun đúc nên những đại danh võ cao cường, danh bất hư truyền.

Những "cây đại thụ" ở đất võ

Người tôi gặp đầu tiên là võ sư Phan Thọ. Trong căn nhà nhỏ lụp xụp, mái ngói rêu phong, võ sư Phan Thọ nói: "Tui đã nghỉ dạy võ từ nhiều năm nay rồi". Dẫu không còn mở lớp dạy học trò nhưng giới biết võ, thầy võ trẻ ở Bình Định bây giờ mỗi khi cần giúp là võ sư Phan Thọ sẵn sàng.

Dẫu đã ngoài tuổi 80, nhưng tâm huyết với nghề của võ sư Phan Thọ thì vẫn luôn canh cánh trong lòng. Đời võ của ông cũng đã từng kinh qua bao thăng trầm biến cố, để học được 18 môn binh khí, ông phải tự thân vận động, vừa học vừa rèn trong suốt 18 năm và hàng chục người thầy khác nhau. "Biết được 18 môn binh khí thì học trong 18 năm nhưng vận dụng giỏi được thì cả cuộc đời", võ sư Phan Thọ nói.

Trong 18 môn tương ứng với 18 binh khí gồm: côn, kiếm, đao, thương, giáo, kích, xà mâu, đinh ba, bồ cào, thiết bản, song tô, song xỉ, song câu, bút, phủ (búa), chuỳ, cung tên, lăn khiên. Ngoài ra ông còn thông thạo sử dụng các loại vũ khí như rựa quéo, lao, đòn xóc, nạng, ná, khăn xéo, dù trong chiến đấu ở các tình huống. Đây là những thế đòn được vận dụng, sáng tạo linh hoạt xuất phát từ thực tế cuộc sống, lao động sản xuất áp dụng trong võ.

Biểu diễn võ cổ truyền Bình Định trong lễ hội.

Từ nhỏ Phan Thọ được người bác ruột là Phan Kỳ Nguyên truyền nghề. Sau khi bác chết, Phan Thọ tiếp tục lặn lội đi "tầm sư học đạo" khắp nơi. Điểm qua những người thầy võ nổi tiếng lúc bấy giờ như Cai Bảy, Sáu Hà, Hương Kiểm Mỹ, Tàu Sáu, Chín Ngạnh, Đinh Hương... đều nhận Phan Thọ là người học trò ngoan.

Vì nhà nghèo, quanh năm tảo tần với ruộng đồng nên để có tiền học võ, Phan Thọ phải lăn lộn với đủ nghề từ nhỏ. Ngày đi chăn trâu, thả bò và làm lụng đủ việc, đêm tối về lại theo đuổi học võ và cậu bé nhà nghèo ấy từ khổ luyện đã trở thành con người huyền thoại trong làng võ cổ truyền Bình Định. Nhờ kiên tâm khổ luyện, võ sư Phan Thọ là một trong những người hiếm hoi ở đất võ Bình Định tinh thông thập bát ban binh khí, cũng như các tuyệt chiêu của môn phái Tây Sơn như quyền pháp Ngọc Trản, Tiên Ông, Thần Đồng, Bát Quái, Ngũ Hành, Lão Mai; đao pháp Siêu xung thiên và Siêu công; côn pháp Bát quái, Thấp bộ Xà đản…

Ông còn áp dụng thông thạo các loại vũ khí hiếm gặp, chỉ lưu truyền ở dân bản địa Tây Sơn, Bình Định, theo cách gọi dân gian là "võ thế", "võ vườn" như võ đòn sóc (đòn gánh hai đầu nhọn), võ bồ cào (chĩa ba mũi nhọn)… Võ sư Phan Thọ từng "song đấu" với con heo rừng độc suốt 3 giờ đồng hồ ở rẫy mía và cuối cùng ông đã hạ gục chú heo sát thủ.

Trước đó hàng chục thanh niên trong làng dùng dao, cuốc xông vào nhưng đều bị chú heo húc chạy. Võ sư Phan Thọ cũng là người một mình từng đuổi hổ chạy khắp núi rừng. Rồi mới đây, năm 1998, khi ông đã bước qua tuổi "thất thập cổ lai hy" nhưng một đoàn võ sĩ Nhật lại tìm đến tận nhà thách đấu.

"Tui đã già rồi, chẳng mơ màng gì chuyện hơn thua nữa đâu", võ sư Phan Thọ nói. Nhưng phía bên kia lại cố tình không để cho ông yên nên Phan Thọ đã ra tay so tài. "Tui vận dụng những đòn thế hiểm để chống trả đối phương và bắt được điểm yếu một cú đá trượt của đối phương nên chớp thời cơ, quét chân hạ gục". Đến đây họ mới chịu chắp tay bái phục: "Võ Tây Sơn, Bình Định danh bất hư truyền, xin được chỉ giáo!"…

Còn võ sư Hà Trọng Sơn ở Phước An, Tuy Phước, Bình Định là người có tài vận dụng các thế võ độc chiêu trong chiến đấu. Ông từng được mệnh danh là "Hùm xám miền Trung" lừng danh khắp cả Đông Dương. Tuổi thơ Hà Trọng Sơn cũng một thời gian khó nhưng với niềm đam mê võ thuật nên ông bắt đầu học võ từ năm mới lên 8 tuổi qua người bác và chú ruột truyền lại.

Ngoài việc học võ gia truyền, ông còn cất công nhiều năm khổ luyện khắp nơi với những thầy võ nổi tiếng trong nước và tích tụ, vận dụng thành những thế đòn riêng cho mình mà không ai có được. Ông bắt đầu nổi danh tại Đại hội Võ thuật Đông Dương tổ chức năm 1944 tại Tourane (Đà Nẵng). Khi đó ông đánh thắng một võ sư người Pháp nổi tiếng tên Esperpaire và đoạt giải vô địch.

Khán giả vô cùng kinh ngạc khi thấy Hà Trọng Sơn ra đòn bí hiểm, hạ gục Esperpaire xuống sàn đài trong vòng mấy phút. Sau đó Hà Trọng Sơn tiếp tục đoạt giải vô địch miền Trung nên lúc bấy giờ ông được tôn vinh là "Hùm xám miền Trung". Hồi ấy, nghe nhắc đến tên võ sư Hà Trọng Sơn cả Đông Dương ai cũng thán phục. Cả dòng họ nhà ông ai cũng được lưu truyền với bài quyền "Mai hoa kiếm pháp".

Ông cũng là người đã cùng một số võ sư Bình Định soạn ra bài kiếm "Mười hai" (Mười hai võ sư, mười hai động tác và mười hai phút cho bộ đội và cán bộ tỉnh Bình Định sử dụng trong những năm kháng chiến chống Pháp). Có điều lạ ở con người này là sau vang danh, ông lại quay về ẩn dật ở làng quê nghèo, dạy võ cho con cháu và những người có chí đức "tầm sư học đạo" với tinh thần thượng võ. Nhưng sau đó nhiều võ sư trong làng võ đã không cho ông ẩn dật mà tìm đến thách đấu với người mang danh "Hùm xám miền Trung". Nổi bật là những trận "so găng" quyết liệt với võ sĩ Huỳnh Tiền, biệt danh "Cáo già miền Nam", vào năm 1966 tại Đà Nẵng, năm 1968 tại An Thái (Bình Định) và năm 1983 tại sân vận động Pleiku (Gia Lai), cuối cùng người đăng quang vô địch cũng vẫn là võ sư Hà Trọng Sơn.

Ở xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định còn có dòng họ võ "Tứ đại đồng đường", ngay như đàn bà con gái cũng được truyền cho vài thế võ gọi là để phòng thân. Anh em của võ sư Trương Cần, cha võ sư Trương Văn Vịnh, năm nay đã 95 tuổi nhưng đều thuộc hàng cao thủ.

Nhiều huyền thoại về dòng họ Trương như Sáu Hòa nổi danh lì đòn, đa mưu. Trương Hoàng, biệt hiệu Ba Chăm, là một trong những người thầy của võ sư Hà Trọng Sơn. Trương Văn Vịnh là người nối nghiệp võ nghệ cao cường của họ Trương hiện đang sống ở Phước Sơn, Tuy Phước, Bình Định. Lên 8 tuổi, Trương Văn Vịnh được cha truyền cho những đường quyền cơ bản. Sau đó, ông được cha gửi đến "thọ giáo" hai người bác ruột. 10 tuổi, Vịnh đã thành thạo các bài "Lão hổ thượng sơn" và "Tứ linh đao".

Đường đao sắc bén và nhanh như tia chớp của ông khiến cho các bậc thầy võ bấy giờ kính nể. Năm 18 tuổi, Trương Văn Vịnh đã bắt đầu thượng đài khắp Trung, Nam, Bắc. Cái làm nên tên tuổi của võ đường Phi Long Vịnh danh trấn miền Trung hiện nay chính là tuyệt chiêu "phi long" (Đòn đánh phủ đầu vào bộ não). Dòng họ Trương với "Tứ đại đồng đường", là những biểu hiện khá tiêu biểu của một truyền thống kế thừa của võ cổ truyền Việt Nam được truyền theo dòng họ.

Bây giờ những "cây đại thụ" võ sư cao cường ở Bình Định một thời đều ở tuổi xế chiều của cuộc đời và sống nơi làng quê nghèo sớm tối với cọng rau, hạt lúa nhưng họ luôn cảm thấy hạnh phúc. "Cái mà tui luôn dạy cho lớp con cháu là phải hiểu được cội rễ sâu xa của võ thuật, đó chính là lòng nhân từ và tinh thần hiệp nghĩa", võ sư Trương Văn Vịnh tâm niệm.

Võ gắn với đời 

Theo nhiều sử sách kể lại, trải qua những thăng trầm, biến cố của lịch sử, Bình Định đã trở thành nơi hội tụ của một vùng đất võ lừng danh. Có người cho rằng, Bình Định là vùng đất phên giậu, chốn biên thùy phía nam của Tổ quốc, nơi đầu sóng ngọn gió với vô vàn thử thách, hoang vu và bất trắc một thời nên hiện thực ấy buộc những lớp cư dân Việt đầu tiên của Bình Định phải căng mình ra để tồn tại. Và trong công cuộc đối mặt với thiên nhiên, chạm trán giữa các lực lượng đối kháng, giữa thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa, võ đã hình thành. Võ Bình Định khởi đầu chỉ là những phản xạ phòng thân, sau đó được chọn lọc, đúc kết thành bài hệ thống có giá trị được áp dụng, học tập và nghiên cứu.

Tuy nhiên, dẫu được bắt nguồn từ đâu, sự hiện diện của võ Bình Định trong suốt tiến trình lịch sử đã để lại một di sản vô giá cho con người. Võ được xem là nét văn hóa truyền thống đặc sắc của Bình Định và được in dấu, lan tỏa trong văn học, hội lễ, âm nhạc, nghệ thuật tuồng... Đặc biệt, thời nhà Tây Sơn, võ Bình Định được nâng tầm và ứng dụng vào đánh giặc, cứu nước.

Khí phách, tài năng tuyệt vời của các võ nhân Bình Định đã thổi vào văn học dân gian một luồng gió bất tận và huyền thoại. Những truyền thuyết đẹp đẽ như câu chuyện Nguyễn Nhạc được sơn thần ban ấn kiếm, Nguyễn Huệ bắt đàn ngựa trời để thu phục lòng tin của đồng bào Xê Đăng, Võ Văn Dũng chém sư hổ mang, Bùi Thị Xuân đả hổ…

Một vật chứng thiêng liêng là lưỡi gươm vàng thể hiện tinh thần nghĩa hiệp và sự xả thân vì nghĩa của những người thượng võ Bình Định. "Anh ơi giữ dạ cho bền/ Mai sau sắt vụn rèn nên gươm vàng". Trong lễ hội cũng tràn đầy tinh thần thượng võ ở đất Bình Định. Lễ hội Tây Sơn được tổ chức hàng năm vào ngày mồng 5 tháng Giêng âm lịch.

Phần lễ của lễ hội này là dâng hương, tưởng niệm tại Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt, nhằm ghi nhớ công lao các thủ lĩnh của phong trào Tây Sơn, đặc biệt là ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Phần chính hội là nghi thức kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa (năm 1789), tái hiện trận Đống Đa oanh liệt của nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ đạo tài ba của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ đã đánh thắng gần 29 vạn quân Thanh xâm lược. "Chỉ mười ngày dẹp giống sài lang, cùng tướng sĩ chung vui Nguyên đán trước..." (Văn tế Đống Đa của nhân dân Bình Khê). .. 

Theo sử sách kể lại, ba anh em nhà Tây Sơn lúc đầu được gửi học cả văn lẫn võ tại võ đường của một bậc trượng phu, võ sư Trương Văn Hiến. "Văn võ phải nương nhau thì đạo làm người mới giữ được vững. Giỏi võ trước hết là để giữ mình, để làm người trượng phu, không làm kẻ giặc bạo tàn!", lời của các võ sư Bình Định từ trước đến giờ đều dạy vậy.

Do đó, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín là ngũ thường, là quy pháp bắt buộc trong võ thuật. Võ Bình Định ra đời rất sớm, quy tụ những võ sư tài giỏi mọi miền về đây và hình thành các môn phái, sáng tạo những bài quyền, bài kiếm, bài roi độc đáo... Những làng võ một thời như Thuận Truyền, An Thái, An Nghi, Bình Nghi của đất Tuy Viễn, Bình Khê và nhiều thế hệ học trò đến giờ vẫn kế tục và phát triển võ nghiệp.

Các đòn thế võ Tây Sơn rất hiểm hóc, ra đòn nhanh, biến hóa khôn lường, lấy thủ làm công, lấy công giữ thủ song toàn, khéo léo mềm dẻo nên khiến cho đối phương rất khó chống đỡ. Anh em nhà Tây Sơn nghiên cứu các thế gà đá nhau áp dụng vào võ thuật, từ đó rút ra lối võ dùng yếu thắng mạnh, dùng mềm thắng cứng. Nữ tướng Bùi Thị Xuân khi quan sát đôi chim đậu trên cành cây đùa nhau cũng sáng tác bài "Song Phượng Kiếm" nổi tiếng. 

Các võ sư cho biết, việc dạy võ ở Bình Định luôn có sự lựa chọn người học, không bao giờ truyền võ cho những kẻ gian tà. Người muốn học võ rất đông, nhưng giỏi võ thì không có mấy người. Thứ nhất là ý chí không bền; thứ hai là tính cách, hành động không minh thì không ai dám dạy hết lòng cho những con người ấy.

Thường những kẻ xấu dạ hay nịnh nọt, quỳ cúi để lấy lòng thầy nhưng sống lâu thì không sao che giấu được lòng người nên dần sẽ bị loại, nhờ đó mà phân định được người xấu, kẻ tốt để truyền võ. Võ dụng ở mục đích nhân tâm nên những người giỏi võ không bao giờ làm việc bất nghĩa, bất nhân và vì mục đích tiền bạc

Ngọc Như
.
.
.