Thượng tá Hoàng Phấn: Người có ba mươi năm “Chuyên ăn cơm ma” và dư âm vụ án xuyên thế kỷ

Thứ Tư, 16/05/2012, 16:17
Ngoài 70 tuổi, đã nghỉ hưu gần 20 năm, nhưng mỗi khi nhắc đến công tác khám nghiệm hiện trường, mổ xẻ tử thi, giám định dấu vết… thì Thượng tá Hoàng Phấn, một sỹ quan kỳ cựu với 30 năm làm công tác Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình và từng được đồng đội gọi bằng cái tên “Người chuyên ăn cơm ma” lại hào hứng, sôi nổi, say sưa hệt như đang họp án…

Từ hai vụ trọng án ‘‘tráng miệng”

Nhớ về đêm 2/9/1962, Thượng tá Hoàng Phấn vẫn nhớ như in: buổi biểu diễn văn nghệ tại sân kho hợp tác xã Yên Trị, huyện Yên Thủy vừa kết thúc, trong ánh đuốc bập bùng trên đường về mọi người đang sôi nổi bình luận các tiết mục như “Anh lười” dí dỏm mà châm biếm; vở kịch “Đội sản xuất của tôi” sao mà giống y như thật… thì bỗng có tiếng kêu thất thanh: “Có người bị giết”.

Tin có vụ án mạng xảy ra tại xã Yên Trị được báo về Công an tỉnh Hòa Bình và lệnh bảo vệ hiện trường được giao xuống cho Công an huyện. Với quãng đường trên 80km, phải sáng hôm sau, lực lượng khám nghiệm mới có mặt.

Hiện trường xảy ra vụ án trên nhà sàn của gia đình Trưởng ban Văn nghệ kiêm diễn viên Trần Sỹ Mỵ, cách nơi biểu diễn văn nghệ khoảng 500m và người chết chính là Đinh Thị Thổ, vợ của Trần Sỹ Mỵ. Nạn nhân bị giết chết ở tư thế ngồi phủ phục ngay cạnh bếp đang đỏ lửa, trên kiềng, nồi cám lợn đang sôi lục bục, tay phải nạn nhân còn nắm chiếc đũa cả quấy cám.

Khám nghiệm tử thi cho thấy, nạn nhân bị giết bằng một nhát chém duy nhất, cực mạnh làm đứt ¾ cổ và chết ngay tại chỗ trong khi đang có song thai khoảng 4 tháng.

Mở rộng hiện trường thấy, cót thóc 1,5 tạ trong buồng rơi vãi tung tóe, vết thóc rơi kéo dài một đoạn trên đường đi sang xã Ngọc Lương và trên bờ giếng nước có một chiếc đèn hoa kỳ đã tắt…

Chi tiết đầu tiên mà trinh sát kỹ thuật Hoàng Phấn chú ý là cót thóc bị nhấc đều xung quanh làm thóc dưới chân đùn ra ngoài từ đó một phần rơi vãi, lọt sàn xuống sân. Thứ hai, thóc rơi vãi trên đường đi tung tóe như người rắc chứ không phải rơi ra từ thúng, rổ hay bao tải thủng.

Theo khai báo của những người trong gia đình nạn nhân thì cót thóc còn nguyên, tức là đầy bằng miệng cót. Từ đây các trinh sát huy động lực lượng thu lượm tất cả số thóc rơi vãi, sàng sảy cho sạch đất rồi trả lại cót thì không thấy cót vơi. Đem cân lại toàn bộ số thóc thấy hụt so với cót thóc 1,5 tạ chỉ chưa đầy 1kg.

Căn cứ khám nghiệm hiện trường Ban chuyên án kết luận: Cái chết của Đinh Thị Thổ là án mạng thật còn việc kẻ gian cướp thóc là hiện trường giả.

Ai là thủ phạm giết người và dựng hiện trường giả? Ban chuyên án đặc biệt chú ý đến chồng của nạn nhân là Trần Sỹ Mỵ. Là Trưởng ban Văn hóa xã, sôi nổi, hát hay lại phụ trách đội văn nghệ, Trần Sỹ Mỵ đang có biểu hiện quan hệ nam nữ bất chính với một người phụ nữ khác, rất có thể Mỵ thực hiện âm mưu giết vợ để lấy người phụ nữ ấy. Và vụ án xảy ra trong đêm văn nghệ mà Trần Sỹ Mỵ vừa là Trưởng đoàn vừa tham gia diễn viên thì rất có thể có tình tiết liên quan đến buổi biểu diễn.

Kiểm tra lại chương trình và những thông tin của buổi văn nghệ qua nhiều nguồn cho thấy: buổi diễn văn nghệ tối 2/9 có 14 tiết mục và mở đầu là đồng ca gần như của toàn đội, trong đó Trần Sỹ Mỵ lĩnh xướng. Tiếp theo là các đơn ca, song ca, kịch ngắn và kết thúc chương trình là bài hát “Anh lười” do chính Trần Sỹ Mỵ đảm nhiệm.

Diễn biến buổi biểu diễn có một chi tiết vô cùng quan trọng lóe lên: Do sự cố khách quan, người trình bày tiết mục thứ 6 là một bài hát đã không thể thực hiện ngay được nên phải đổi tiết mục khác thay thế. Do không thấy trưởng đoàn Trần Sỹ Mỵ đâu mà buổi biểu diễn không thể gián đoạn nên một người trong đoàn đã ra sân khấu hát bài “Anh lười” thay cho Trần Sỹ Mỵ. Do không nắm được tình tiết này nên đến cuối đêm diễn Trần Sỹ Mỵ thản nhiên hát lại bài “Anh lười” mà trước đó đã có người hát ở tiết mục thứ 6.

Từ kết quả khám nghiệm hiện trường đã chỉ ra chuẩn xác hướng điều tra và căn cứ kết quả điều tra kết luận: Trần Sỹ Mỵ chính là thủ phạm giết Đinh Thị Thổ. Lệnh bắt Trần Sỹ Mỵ được thi hành. Trước những chứng cứ không thể chối cãi, Trần Sỹ Mỵ đã phải nhận tội.

Sẵn có âm mưu giết vợ để lấy người đàn bà mình đang có quan hệ bất chính, Mỵ đã tạo cơ hội để thực hiện tội ác này vào đêm văn nghệ 2/9 khi cả xã tập trung ở sân hợp tác. Ngay từ khi lập chương trình, với tư cách Trưởng đoàn, Mỵ đã xếp cho mình có mặt ở tiết mục đầu tiên và sau đó là tiết mục cuối cùng số 14.

Đêm văn nghệ diễn ra từ đầu cho đến tiết mục thứ 5 như kịch bản. Tiết mục thứ 5 đang thực hiện thì Trần Sỹ Mỵ lẻn về gây án. Hắn chuẩn bị sẵn con dao có chuôi dài và rất sắc. Bằng với tất cả sức bình sinh của mình cộng với sự thôi thúc của mối tình bất chính, lại ở giữa nhà sàn rộng thênh thang, không vướng víu gì, người đứng chém người ngồi nên vô cùng thuận và mạnh. Chính thế mà chỉ một nhát chém đã làm đứt ¾ cổ nạn nhận. Tội ác dã man của Trần Sỹ Mỵ đã phải đền tội bằng bản án tử hình.

Không xa thời điểm xảy ra vụ án Trần Sỹ Mỵ giết vợ thì nhân dân xóm Chăm xã Thái Bình nay là phường Thái Bình đi nương nhìn thấy một người phụ nữ chết ngồi tựa vào gốc cây ven suối.

Qua khám nghiệm thấy trên thi thể nạn nhân chỉ có một vết thương duy nhất khá sâu ở cổ, để lộ cả khí quản, thực quản; một con dao dài 20cm, rộng 4cm không kể chuôi gỗ còn nằm ở vết thương; áo phía sau lưng nạn nhân nhàu nát, tóc rối bù; nạn nhân đang mang thai khoảng 4 tháng; đáng chú ý trong túi nạn nhân có một bức thư tuyệt mệnh: “Tôi phiền vì chuyện đời tư, ai thấy xin nhắn dùm về gia đình” ký tên Như. Nạn nhân được xác định là Đinh Thị Như, y tá công tác tại Đội Phòng chống sốt rét Ty Y tế Hòa Bình.

Qua khám nghiệm cho thấy: Hướng vết thương trên cổ nạn nhân ngược với chiều của con dao; lượng máu chảy ra còn đọng lại rất ít so với vết thương cùng loại ở các vụ án khác. Mặt khác, dù nạn nhân tự vẫn thì khi chết vẫn phải giãy giụa nên không thể còn con dao nằm lại ở vết thương trên cổ được. Phía sau áo nạn nhân bị nhàu, tóc rối tung là biểu hiện của sự chống đối quyết liệt. Từ dấu vết trên khẳng định: Đây là vụ án mạng, Đinh Thị Như đã bị bóp cổ chết, ngay sau đó hung thủ dùng dao cứa cổ nạn nhân để tạo hiện trường giả.

Từ đây, một tang vật vô cùng quan trọng thu trong túi áo nạn nhân tại hiện trường, đó là “bức thư tuyệt mệnh”. Trước hết, bức thư này chữ viết nguệch ngoạc, run rảy có thể viết bằng tay trái. Từ ngữ trong thư không phải từ ngữ thường dùng của người Hòa Bình nói chung, người Mường nói riêng đó là: buồn thì viết là phiền, giúp thì viết là dùm (Tôi phiền vì chuyện đời tư, ai biết xin nhấn dùm về gia đình). Kết quả khám nghiệm và phân tích hiện trường, tài liệu thu được tại hiện trường đi đến kết luận: Tác giả bức thư “tuyệt mệnh” chính là thủ phạm của vụ án.

Phải dày công, trinh sát mới xác định được đối tượng nghi vấn và bí mật lấy được mẫu chữ để gửi đi giám định. Giám định viên số một duy nhất của Bộ Công an lúc đó là ông Nguyễn Định Trung đã có kết luận cho dù đối tượng cố tình viết thư “tuyệt mệnh” bằng tay trái.

Song vì đối tượng không những là Phó Ty Y tế tỉnh Hòa Bình mà lại là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc nên thuộc diện Ban thống nhất Trung ương quản lý. Do đó, kết luận của ông Nguyễn Định Trung cũng như tài liệu trinh sát của Công an tỉnh Hòa Bình chưa được Trung ương chấp nhận ngay. Vì nếu kết luận sai, bắt sai thì hậu quả khôn lường.

Sau nhiều tháng rà đi, soát lại, tài liệu trinh sát không có gì thay đổi và kết luận chữ viết của giám định viên bất di, bất dịch. Sự thật được phơi bày: Kẻ giết Đinh Thị Như chính là Phó Ty Y tế Hòa Bình – Nguyễn Văn Trị. Lệnh bắt Nguyễn Văn Trị được thực hiện trước sự ngỡ ngàng của cán bộ, nhân viên, y, bác sỹ… Ty Y tế Hòa Bình.

Không phải tốn nhiều công sức xét hỏi, Nguyễn Văn Trị đã thành khẩn khai báo: Do quan hệ bất chính với Đinh Thị Như là gái có chồng dẫn đến có thai, vợ Trị lại đang công tác tại Bộ Y tế. Lo sợ sự việc bại lộ sẽ ảnh hưởng đến công tác và gia đình nên Trị đã rủ người tình đi chơi rồi ra tay sát hại.

Những năm tiếp theo, không vụ án có khám nghiệm nào mà anh vắng mặt và anh nhanh chóng trở thành người chỉ huy công tác kỹ thuật hình sự của Công an tỉnh Hòa Bình.

 … đến vụ án đặc biệt nghiêm trọng mà dư âm xuyên thế kỷ

Năm 1966 – 1969, ông Hoàng Phấn là một trong số ít sỹ quan trẻ của Bộ Công an được chọn cử đi tu nghiệp về chuyên khoa Kỹ thuật hình sự tại Cộng hòa dân chủ Đức – nước có nền khoa học nói chung, khoa học kỹ thuật hình sự nổi trội trong phe XHCN thời đó.

Vừa tu nghiệp chuyên ngành từ Cộng hòa Dân chủ Đức trở về, năm 1969, ông Hoàng Phấn gặp ngay vụ án mà bắt đầu từ một vụ trộm “tài sản xã hội chủ nghĩa”.

Địa điểm xảy ra vụ trộm là Cửa hàng bách hóa thị xã Hòa Bình và ông Hoàng Phấn là người chỉ huy và trực tiếp khám nghiệm vụ này. Kẻ gian đã đột nhập cửa hàng và mở khóa tủ hàng lấy đi 4 chiếc đài orionton. Đây là số tài sản rất quý hiếm và đáng kể về giá trị thời đó. Hội đồng khám nghiệm hiện trường và sau này lập Ban chuyên án thì ngoài Công an tỉnh còn có đại diện của Công an thị xã Hòa Bình.

Tang vật gần như duy nhất thu tại hiện trường là chiếc khóa xe đạp dùng để khóa tủ đựng số đài trên. Kết thúc cuộc khám nghiệm, ông Hoàng Phấn dùng một chiếc hộp, cẩn thận đựng chiếc khóa để giám định. Chiếc hộp đựng chiếc khóa này giao cho Nguyễn Duy Trì là Phó Công an thị xã Hòa Bình quản lý chờ đưa đi giám định.

Sáng hôm sau, ông Hoàng Phấn đến nhận lại chiếc hộp mang về Bộ Công an giám định thì giật mình thấy mất dấu. Với sự nhạy cảm của người vốn đã có kinh nghiệm, nay lại “có học”, ông Hoàng Phấn đã thầm khoanh một khoanh đỏ trong đầu. Kết quả giám định cho thấy, trên chiếc khóa, dấu vân tay đã bị xóa sạch càng tô đậm khoanh đỏ trong đầu ông, nhưng phải hết sức bí mật và thật trọng, ông tuyệt nhiên không lộ ra nghi vấn này.

Sau một thời gian tích cực điều tra mà chủ yếu lúc này là đi tìm tang vật của vụ án và từ một nguồn tin quần chúng cung cấp, trinh sát đã phát hiện ra một chiếc đài orionton còn mới xuất hiện trong một gia đình người dân thuộc Vật Nhội, một làng ven sông Đà.

Vụ án trộm tài sản đang mở ra thông tin quan trọng thì vào một đêm tối, tại Km 3,5 tính từ trung tâm thị xã Hòa Bình theo hướng Hòa Bình – Hà Nội xảy ra một vụ trọng án khác. Tối hôm đó, chính Nguyễn Duy Trì, trực chỉ huy Công an thị xã Hòa Bình. Nhận được tin báo của người lái xe tải tên là Chất về một vụ tai nạn giao thông tại địa điểm nêu trên, Nguyễn Duy Trì trực tiếp lên Công an tỉnh báo cáo.

Hội đồng khám nghiệm được thành lập và Nguyễn Duy Trì, Phó Công an thị xã cũng có trong thành phần khám nghiệm và sau này lại có mặt trong Ban chuyên án. Ông Nguyễn Văn Thư lúc đó là Phó trưởng phòng Hình Cảnh đã cho chủ trương thành lập ngay 2 tổ công tác.

Một tổ theo hướng đường 6A nắm tình hình các xe tải quá cảnh sang Lào hay nghỉ đêm tại Chợ Bờ, Suối Rút, tổ thứ hai do ông Hoàng Phấn dẫn đầu xuống ngay hiện trường. Ông Hoàng Phấn nhớ lại: “Khi được chỉ đạo như vậy, tôi có ý kiến, phải xuống hiện trường xem xét, nếu đúng là vụ tai nạn giao thông thì mới cử anh em đi Chợ Bờ, Suối Rút và được lãnh đạo đồng ý”

Xuống đến hiện trường, ông Phấn để ý ngay thấy những giọt máu trên đường có hình tròn đều biểu hiện như là rơi từ trên cao xuống, ông thắc mắc trong đầu, nếu là tai nạn giao thông thì nạn nhân bị ôtô đâm hay va quệt phải ngã xuống đường thì mới chảy máu, chứ không thể có những giọt máu nhỏ giọt từ trên cao xuống được.

Đến địa điểm nạn nhân nằm mới thấy máu chảy lênh láng thành vũng. Nạn nhân bị một vết thương duy nhất hình tròn từ sau gáy xuyên sang trán, xung quanh điểm vào của vết thương ám khói thuốc súng. Như vậy, nạn nhân đã bị giết bằng một phát súng bắn từ phía sau và ở cự ly rất gần.

Nạn nhân được xác định là Ngụy Hồng Thái – nhân viên ngành Thương nghiệp tỉnh Hòa Bình. Nhưng ai là người giết Thái và giết với động cơ gì là một câu hỏi lớn được đặt ra. Để trả lời câu hỏi quan trọng này phải tìm ra khẩu súng nào dùng để gây án. Muốn vậy, phải tìm cho bằng được cát tút của viên đạn đã bắn ra. Thế là hàng chục trinh sát kề sát nhau mà trong đó có cả Nguyễn Duy Trì rất hăng hái tìm cát tút. Đến khi ông Nguyễn Công Mão reo lên: Đây rồi! thì ông Hoàng Phấn chú ý ngay thái độ của Nguyễn Duy Trì và thấy có biểu hiện khác thường.

Vỏ đạn đã thu được, vậy viên đạn gây nên cái chết của Ngụy Hồng Thái được bắn ra từ khẩu súng nào? Của ai? Căn cứ vỏ đạn, công tác điều tra nhận ra ngay đây là loại đạn súng ngắn K54, loại súng chỉ có Công an và bộ đội được giao quản lý và sử dụng. Lệnh thu hồi súng ngắn K54 trong Công an tỉnh được phát ra.

Sau khi thu hồi đủ số súng cần thiết, ông Hoàng Phấn cùng ông Phạm Chuyên được ưu tiên dùng xe ba bánh mang súng về cơ quan Bộ Công an giám định. Khi có kết luận chính xác khẩu súng đã bắn ra viên đạn gây án, ông Phấn báo ngay về cho đồng chí lãnh đạo Ty Công an Hòa Bình.

Do trời đã tối, xe ba bánh lại cháy đèn, ông Phấn và ông Phạm Chuyên phải rẽ vào Trường C500, nay là Học viện ANND để mượn 2 chiếc đèn pin của anh em cán bộ Công an Hòa Bình đang học ở đó. Thế là hai ông thay nhau vừa lái xe vừa dùng đèn pin soi đường. Về đến thị xã Hòa Bình thì đèn cũng vừa pin.

Tìm ra khẩu súng gây án thì lại nảy ra một rắc rối khó lý giải. Số khẩu súng gây án thì đúng là của Nguyễn Duy Trì, nhưng khẩu súng này lại được thu từ ông Nguyễn Văn Sửu cũng là sỹ quan Công an thị xã Hòa Bình. Lập tức ông Sửu bị quản thúc để điều tra. Ông Sửu khai, trong thời điểm xảy ra vụ án mạng trên, ông đang cho một trưởng ban bảo vệ thuộc khu vực Đồng Tiến mượn khẩu súng của ông.

Còn tại sao khẩu súng của ông lại thành khẩu súng của Nguyễn Duy Trì thì ông không thể lý giải nổi. Và thế là cả người bảo vệ mượn súng của ông Sửu cũng trong diện điều tra của vụ án. Mặc dù có những rắc rối về súng như trên, nhưng ông Sửu hoàn toàn không phải đối tượng nghi vấn cao, tuy nhiên ông Sửu cũng bị suy sụp tinh thần bởi rắc rối trên. 

Khi manh mối kẻ bán chiếc đài orionton cho người ở Vật Nhội chính là Ngụy Hồng Thái thì lập tức Nguyễn Duy Trì bỏ trốn cùng với một số tài liệu quan trọng của ngành Công an. Đến đây, kẻ giết Ngụy Hồng Thái đã được khẳng định là Nguyễn Duy Trì và mục đích giết Thái là để bịt đầu mối vụ trộm tài sản ở cửa hàng bách hóa tổng hợp.

Thế rồi một hôm, ông Nguyễn Công Mão đang trên một chuyến xe khách Hòa Bình – Tân Lạc bỗng thấy một người giống Nguyễn Duy Trì đang lững thững đi bộ đoạn dốc Má. Ông Mão yêu cầu lái xe cho mình xuống thì đúng là Nguyễn Duy Trì. Sau khi hỏi han, ông Mão khuyên Trì về đơn vị và Trì nghe theo.

Trước cơ quan điều tra, Nguyễn Duy Trì khai: Chính anh ta bật đèn xanh và gác cho Ngụy Hồng Thái đột nhập lấy trộm 4 chiếc đài ở Cửa hàng bách hóa tổng hợp thị xã Hòa Bình. Khi được giao quản lý vật chứng là chiếc khóa tủ chờ giám định vân tay, thì chính y đã xóa sạch dấu vết trên chiếc khóa ấy. Và khi một chiếc đài tang vật được thu lại, Trì biết thế nào vụ án trộm tài sản cũng được làm rõ. Từ đó, Trì quyết định ra tay hạ sát Thái để bịt đầu mối liên quan đến mình.

Nhằm đúng hôm trực, Trì nhắn gặp Thái để chia tiền bán đài tại Km 3,5 như nêu trên. Trì bảo vừa đi vừa nói chuyện chứ không dừng một chỗ. Đến đoạn vắng, Trì đi chậm lại một hai bước và rút súng K54 bắn vào gáy Thái. Bị bắn bất ngờ, Thái chạy được vài bước rồi đổ vật xuống đường, còn Trì quay lại cơ quan trực như không có gì xảy ra.

Một lúc sau, người lái xe tải tên Chất phát hiện có người chết đã đến Công an thị xã Hòa Bình trình báo thì chính Nguyễn Duy Trì nhận tin và ngay sau đó lên báo cáo “vụ tại nạn giao thông” với Công an tỉnh Hòa Bình.

Còn về khẩu súng gây án, Trì khai: Ngay khi khám nghiệm hiện trường thu được vỏ đạn bắn ra, Trì đã rất lo sợ và nung nấu tìm cách thoát tội. Đang trong lúc gay cấn đến mất ăn, mất ngủ thì một buổi sáng, Nguyễn Duy Trì thấy ông Sửu vào nhà vệ sinh mà treo bao súng ngắn K54 bên ngoài. Không bỏ lỡ thời cơ, Trì đánh tráo ngay khẩu súng của ông Sửu. Từ đó mới dẫn tới rắc rối về súng và ông Sửu mới suy sụp tinh thần như đã nêu.

Tuy đánh tráo được khẩu súng gây án, nhưng Trì biết vẫn không thể thoát tội vì người bị bắn chết chính là người đã tiêu thụ một chiếc đài mất trộm tại cửa hàng bách hóa, còn những chiếc khác, chính Trì cũng tham gia tiêu thụ, nên không trước thì sau cũng sẽ bị phát hiện, nhất là khi Trì đã giết chết Thái thì vụ án trở thành trầm trọng hơn nhiều. Biết vậy, Nguyễn Duy Trì đã bỏ trốn lên vùng biên giới với ý đồ vượt biên sang Lào. Nhưng do cửa khẩu được quản lý nghiêm ngặt nên y không thực hiện được ý đồ vượt biên đành quay về Hòa Bình.

Vụ án đến đây tưởng kết thúc, nào ngờ lại xảy ra tình huống đáng tiếc không đáng có tiếp theo. Đó là, thấy Nguyễn Duy Trì quay lại đầu thú, khai báo thành khẩn mà lại trong ngành, quen biết nhau nên cán bộ Trại Tạm giam Hòa Bình đã mất cảnh giác. Lợi dụng sơ hở, Nguyễn Duy Trì lại lấy cắp một khẩu súng K54 của cán bộ trại và bỏ trốn. Công an tỉnh huy động lực lượng truy bắt nhưng chưa kết quả.

Ban chuyên án nhận định, rất có thể Trì đợi trời tối sẽ tìm cách vượt sông Đà sang phía Thịnh Lang, ở đó có người thân của y. Các mũi mai phục được triển khai. Ông Nguyễn Văn Thắng, Phó trưởng Ty và ông Nguyễn Văn Đông, Trưởng phòng Hình sự ở mũi chính.

Lực lượng mai phục và truy bắt Trì thống nhất, nếu thấy xuất hiện tiếng động hay bóng người thì không hỏi là ai, mà hô thật dõng dạc: Trì, đứng lại! Khoảng mấy chục phút mai phục, quả nhiên có tiếng lau lách loạt soạt. Ông Đông hô: Trì! đứng lại! thì nghe tiếng lên đạn của đối tượng. Không chậm trễ, ông Thắng nổ súng về phía tiếng động. Viên đạn trúng vào đầu Nguyễn Duy Trì nhưng vào phần mềm nên Trì không chết và bị bắt. Sau khi chữa trị khỏi vết thương, Nguyễn Duy Trì đã được đưa ra xét xử và nhận mức án tử hình.

Nói về vụ án này, đến nay ông Hoàng Phấn chưa hết chua xót về một sỹ quan Công an biến chất đi thông đồng với kẻ gia trộm mấy cái đài. Khi có nguy cơ bại lộ thì mấy cái đài ấy trở thành quá bé nhỏ so với danh dự quá lớn của anh cán bộ Công an. Thế là cái sảy nảy cái ung và đến mức giết đồng bọn hòng thoát tội. Kết cục chỉ mấy cái đài mà mất đi hai mạng người, trong đó có một sỹ quan Công an. Thật đau xót, nhưng “luật pháp bất ly thân”, kẻ gây tội ác dù là ai thì cũng phải chịu tội trước pháp luật.

Ông Hoàng Phấn hiện tại.

Sau những giây trầm lắng, quay lại chủ đề kỹ thuật hình sự, ông Hoàng Phấn nói: Ngày nay tội phạm nhiều hơn, thủ đoạn tinh vi, tính chất phức tạp hơn nhưng trình độ khoa học, kỹ thuật cao hơn.

Nhưng theo ông, khoa học kỹ thuật tiến tiến đến đâu đi nữa thì cũng là để hỗ trợ cho tinh thần trách nhiệm, lòng đam mê và sự thông minh của con người mà thôi. Và ông rất mừng, ngày nay có không ít cán bộ trẻ, có trình độ và tâm huyết với công việc đặc thù đầy gian nan vất vả này

Lê Va
.
.
.