Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống

Thứ Hai, 02/02/2026, 11:02

Trong Truyện Kiều, vì ghen nên Hoạn Thư mắng Thúy Kiều:

Con này chẳng phải thiện nhân

Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng

Ta hiểu thế nào về từ lộn trong ngữ cảnh này?

Liên quan đến từ lộn, ở trong Nam một khi nói "ăn hột vịt lộn", đành rằng là ăn cái trứng đó nhưng không chỉ là thế. Rằng, đôi khi vì lý do gì đó, cảm thấy công việc nào đó không hanh thông, người ta bèn xổ xui bằng cách… ăn hột vịt lộn. Tại sao lại chọn trứng hột vịt lộn? "Bí kíp" của sự lựa chọn này, nghĩ cho cùng là do mỗi từ lộn. Lộn là lật ngược, đảo ngược vị trí trong ra ngoài, trên xuống dưới. Trong trường hợp này, ngụ ý lộn cái xui xẻo đó để nó "phắn" quách cho rồi, cút xéo càng nhanh càng tốt. Xổ xui là vậy.

Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống -0
Hoạn Thư xử Kiều: "Con này chẳng phải thiện nhân/ Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng"- tranh của nữ họa sĩ Ngọc Mai

"Từ điển tiếng Việt" (1988) do Hoàng Phê chủ biên từ lộn có nhiều nghĩa: "1. Lật mặt trong ra ngoài, mặt ngoài vào trong. Lộn trái áo ra phơi. Lộn cổ áo; 2. Làm đảo ngược vị trí đầu chân, trên dưới. Lộn đầu xuống đất. Cây đổ, lộn gốc lên trời; 3. Quay ngược trở lại hướng đang đi. Đi một đoạn lại lộn về. Bay lộn vòng trở lại; 4. (Động vật) Biến đổi hình dạng, cấu tạo, trở thành khác hẳn đi, trong quá trình sinh trưởng. Con nhộng lộn thành bướm".

Tuy nhiên, lộn còn có nghĩa là nhầm/ nhầm lẫn, thí dụ:

Trồng trầu thả lộn dây tiêu

Con theo hát bội mẹ liều con hư

Về cái sự nhầm lẫn, ông bà ta dặn dò là phải cẩn trọng, chớ đề xảy ra bởi "Sai con toán bán con  trâu". Sai bởi tính nhầm, tính lộn. Trong phóng sự "Xâu lòng thờ" (Báo Hà Nội tân văn - số 35 ra ngày 10.9.1940), nhà văn Ngô Tất Tố kể lại có người do nhầm lẫn, tính lộn mà không khéo va vào thưa kiện dẫn tới tù tội cũng từ… xâu lòng lợn.

Rằng trong lễ Thượng điền - là lễ cúng trình Thần nông và các cụ Tiên nông làng mình đã cày cấy xong, tất nhiên người ta ngả lợn ăn mừng. Riêng bộ đồ lòng phải phân chia cho các cụ: "Thể lệ kính biếu, không phải chỉ nói bằng miệng mà thôi. Ông nào được biếu thứ nào, đã có sổ sách biên chép rõ rệt. Cuốn sổ ấy có chữ cả làng ký kết, lại trình quan trên duyệt y, nó là một thứ pháp luật của làng, không ai được phép thay đổi".

Ấy thế khi phân chia xâu lòng thờ, bác Hai Đắc vì vô ý tính lộn nên chia cụ Chưởng lễ chỉ một xâu, còn thiếu một xâu theo lệ. Thế là cụ không nhận, đòi kiện lên quan xét xử. Sợ quá, bác Hai Đắc cậy nhờ cụ Chánh cựu nói giúp đôi lời. Cuối cùng thế nào? Cụ Chánh cựu cho biết: "Tôi đã biết mà. Lão Chưởng lễ làng tôi đểu lắm, cái gì cũng tiền. Tôi đến nói hộ thằng Đắc, lão ta nhất định đòi hai điều này: Một là thằng Đắc giết lợn mời làng tế thánh để lấy một xâu lòng thờ biếu hắn; hai là nó đền cho hắn một trăm bạc. Mà hắn đã nói một trăm, ít ra cũng phải sáu chục mới xong. Ấy là ở nhà quê khó thế, ông ạ! Có của chắc gì đã giữ được mà ăn đâu".

Ngẫm ra cái câu "Miếng giữa làng hơn sàng xó bếp" thiệt ghê gớm, vì "miếng giữa làng" ấy còn phản ánh danh dự, vị thế của người có vai vế, có máu mặt "sống ở làng, sang  ở nước". Nghe ra chua chát quá.

Trở lại với từ lộn, trong truyện cổ tích "Tấm Cám", mẹ con Cám đã đổ chung lộn lạo đấu thóc, đấu gạo và buộc Tấm phải nhặt đâu ra đó thì mới được đi xem hội. Trường hợp của từ lộn ở đây có hiểu như lẫn/ lẫn lộn như ca dao có câu:

Bạc lộn than như vàng lộn trấu

Anh chỉ thương thầm không thấu dạ em

Lộn còn đồng nghĩa với từ lận, chẳng hạn, trong tập "Sài Gòn tạp pín lù", cụ Vương Hồng Sển viết: "Sắp đặt xong, đồ đạc vòng vàng bao nhiêu tôi đeo hết vào mình, lộn lưng một ngàn rưỡi bạc, ghịt mấy lần chắc chắn, còn lại gia dư tôi không dám lấy một món gì ở trong nhà đều bỏ lại hết". Lộn lưng/ lận lưng là bỏ vật gì vào lưng quần rồi lận xuống cho nó nằm yên, không rớt ra ngoài. Lận ở đây là hiểu theo nghĩa dắt vào, nhét vào, chứ không phải lừa gạt như "Cờ gian bạc lận", tuy nhiên, dù có giở thói xấu này ra thì ông ba ta bảo: "Lận thì mạt" là thứ của nả lừa đảo đó cũng "của thiên trả địa", không giữ được.

Không rõ từ bao giờ, chúng ta có từ "lộn địa chỉ"? Thí dụ, đang thất nghiệp, nghèo rớt mồng tơi, một xu chẳng có, thế mà có kẻ tìm đến hỏi vay tiền. Thay vì từ chối, trả lời lòng vòng, ta chỉ cần nói "lộn địa chỉ" ắt người đó hiểu mượn không đúng nơi, đúng chỗ.

"Đại Nam quấc âm tự vị" (1895) có ghi câu tục ngữ: "Lộn mồng lộn cuống: Không biết đâu là mồng, đâu là cuống, quên lộn rối rắm"; khi nói "lộn cuống" là "Sợ hãi thái quá, không biết đầu đuôi". Thông thường cấu trúc của câu tục ngữ luôn có hai về đối xứng nhau, chẳng hạn, "Lộn thừng lộn chão", không biết đâu là thừng đâu là chão, cả hai cùng từ loại, vậy ta có thể suy ra mồng và cuống cũng tương tự.

Nếu "mồng" ở đây chính là mào/ mào gà, vậy cuống là cái gì?

Về câu này, còn có dị bản là trong truyện dài "Trang trại cuối rừng" (NXB Kim Đồng-2025), nhà văn Phạm Công Luận cho biết nhân vật của mình: "Nuôi gà từ hồi trẻ tới giờ, chú chỉ khoái một điều là nhờ đó hiểu được câu mà ông nội chú hay nói 'Lộn mồng lộn tách' khi có điều gì đó diễn ra lộn xộn, không biết cái nào là đầu, cái nào là đuôi. Chắc là nó bắt nguồn từ những người nuôi gà. Mồng là miếng thịt như cái bông đỏ trên đầu con gà trống, tách là hai miếng da lòng thòng hai bên tai gà, khi thì màu đỏ khi thì tái. Lộn mồng lộn tách là lộn xộn, không phân biệt được đâu là mồng, đâu là tách. Chỉ những người nuôi gà, nhìn con gà nhiều lần mới nghĩ ra câu này" (tr.47).

Với giải thích này, ta thấy "cuống" và "tách" trong ngữ cảnh này chỉ là một, là "là hai miếng da lòng thòng hai bên tai gà".

Trở lại với câu thơ Kiều:

Con này chẳng phải thiện nhân

Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng

Ta hiểu thế nào là lộn chồng qua các nghĩa của từ lộn đã nêu ra? Có phải là lấy lộn/ lấy nhầm chồng người khác làm chồng của mình? Nếu thế, người ta dùng từ "cướp chồng". Do đó, giải thích của học giả An Chi "Lộn chồng: Sống với chồng của người đàn bà khác", liệu có hợp lý?

Tuy nhiên, với từ lộn còn có thêm nghĩa khác là nhầm/ nhầm lẫn, do đó, chúng ta hoàn toàn có thể suy luận và giải thích theo một hướng khác nữa. Khi Hoạn Thư mắng Kiều là quân "lộn chồng" - chắc gì ngụ ý theo các nghĩa vừa nêu trên? Bởi Kiều chung chạ, xe duyên với Thúc Sinh là do nàng nhầm/ lộn khi cứ tưởng anh chàng này hãy còn "phòng không bóng chiếc", còn trai tơ độc thân chứ nào biết đang trong vòng cương tỏa của "gấu mẹ" là Hoạn Thư.

Rõ ràng là nàng không hề cố ý, vì thế ta thấy nàng đáng thương hơn đáng trách. Thì đó, do Thúy Kiều nhầm, ngay cả quan xử án cũng nhầm nên khi nàng đến với Thúc Sinh dù có thế nọ thế kia nhưng cuối cùng cũng đã: "Kíp truyền sắm sửa lễ công/ Kiệu hoa cất gió đuốc hồng ruổi sao". Vậy, về lý Kiều đến với Thúc Sinh là danh chính ngôn thuận bởi được chấp thuận của cơ quan nhà nước.

Dám nói, nếu trường hợp đám cưới này diễn ra vào thời đại ngày nay thì không thể có từ lộn - hiểu theo nghĩa là nhầm bởi cả hai phải trình giấy xác nhận đang trong trường hợp độc thân theo quy định chung - sự chặt chẽ này hoàn toàn cần thiết. Tóm tại, từ "lộn chồng" trong thơ Kiều một khi hiểu qua hướng này cũng là suy luận mới mẻ, gợi ý cho chúng ta cùng suy ngẫm thêm về hai từ hết sức quen thuộc trong tiếng Việt nhưng hiểu thế nào cho đúng, quả không dễ dàng.

Chưa dừng lại đây, ta hãy xét thêm ý kiến các nhà nghiên cứu về “Truyện Kiều” giải thích thế nào? "Lộn chồng: Bỏ chồng mà trở lại nhà mình" (Đào Duy Anh); "Quân lộn chồng: Chỉ bọn con gái đàn bà hư hỏng, bỏ chồng mà đi theo trai" (Nguyễn Quảng Tuân); "Lộn chồng là bỏ chồng này lấy chồng khác, thay đổi chồng luôn luôn. Ý nói gái hư thân" (Vân Hạc - Văn Hòe), "Trốn chúa lộn chồng: thành ngữ chỉ loại đàn bà không ra gì. Trốn chúa: kẻ nô tì, con ở trốn chủ nhà. Lộn chồng: người bỏ chồng về cha mẹ đẻ hay đi lấy người khác, chỉ người bất lương, bất hảo" (Hội Kiều học Việt Nam)…

Nhìn chung các giải thích này na ná, tuy nhiên xét về chữ nghĩa của từ "lộn" thì Đào Duy Anh trả lời chuẩn hơn cả,  bởi lộn trong ngữ cảnh này hàm nghĩa mà "Việt Nam tự điển" (1931) giải thích: "Trở ra, trở vào. Lộn chồng. Lại lộn vào làm con". Ta hiểu là ai đó có chồng, bấy lâu ở nhà chồng nay vì lý do gì đó phải về ở nhà cha mẹ, nghĩ cho cùng cũng bình thường, bởi nếu không hợp nhau thì chia tay, chứ cơn cớ gì lại sánh với quân trốn chúa, không phải hạng người lương thiện? Xin thưa, là do ngày xưa có quan niệm: "Làm gái giữ đạo tam cang/ lấy chồng gánh vác giang san nhà chồng", "Có chồng thì phải theo chồng/ Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng theo"...

Vậy, vì lý do gì đó như cô vợ bị chồng đuổi, hoặc tự ý quay trở lại nhà mình, không ở nhà chồng nữa là sự việc nghiêm trọng lắm rồi, là dư luận xã hội phê phán nặng nề người phụ nữ đó, dù không rõ lý do tại vợ hay chồng, chứ không nhất thiết phải đợi đến lúc "bỏ chồng mà đi theo trai", "bỏ chồng này lấy chồng khác".

Lê Minh Quốc
.
.
.