Vòm ngực của đời
Bên cạnh những yếu tố tục, chúng tôi còn cho rằng có những đơn vị lấp lửng, nằm giữa tục và thanh. Biết diễn đạt khéo và hay thì không tục, còn sự vụng về hoặc non kém về kỹ thuật sẽ mang hậu quả ngược lại. Bài viết này sẽ bàn về một yếu tố lấp lửng giữa tục và thanh mà tôi cho là có tính điển hình cao nhất, đã xuất hiện không ít trong hành trình thi ca của Việt Nam và nhiều dân tộc khác, đó là hình ảnh bầu vú của người phụ nữ.
Trong văn học truyền miệng của người Việt, những câu tục ngữ, ca dao có hình ảnh bầu vú đã xuất hiện không phải là ít, nhưng hiếm khi tìm được những câu có tính chất ca ngợi hình ảnh này. Xuất hiện nhiều nhất là những câu tục ngữ thể hiện những quan sát có tính chất kinh nghiệm sống hoặc nhân tướng học, chẳng hạn: Lớn vú bụ con; Lưng chữ cụ, vú chữ tâm; Vú bánh dày, má bánh đúc; Thâm dưa thì khú, thâm vú thì nghén; Đau bụng cỏ ngú, đau vú diếp nồn; Con gái chơi với con trai/ Về sau cái vú bằng hai quả dừa... Tiếp đến, hình ảnh bầu vú xuất hiện theo bút pháp tả thực, dĩ nhiên có thể sẽ hơi cường điệu, về những vất vả nhọc nhằn của người phụ nữ: Chưa chồng yếm thắm đeo hoa/ Chồng rồi hai vú bỏ ra tày giành; Một ngày ba bận trèo đèo/ Vì ai vú ếch lưng eo hở chàng; Gái một con trông mòn con mắt/ Gái hai con vú quặt đằng sau. Trong một số trường hợp, vú được sử dụng để truyền tải những ý nghĩa ẩn dụ, chẳng hạn: Cả vú lấp miệng em; Con ấp vú mẹ; Con đỏ ấp vú bà lão hoặc có lần hình ảnh này còn xuất hiện trong một tinh thần phê phán tố cáo ách nặng của chế độ phong kiến: Bộ Binh, bộ Hộ, bộ Hình/ Ba bộ đồng tình bóp vú con tôi. Trong một vài câu khác, trái vú có khi được nhìn nhận như một “đặc sản” mang tính chất vùng miền, chẳng hạn: Gà Văn Cú, vú Đồ Sơn hay câu tục ngữ nói về con gái xã Liễu Đôi, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam: Chưa động vú đã mỏi rời tay. Theo sự tra cứu của chúng tôi, những câu ca mang tính chất tán tỉnh yêu đương, thể hiện sự bạo dạn với hình ảnh trái vú như các trích dẫn sau đây là rất hiếm khi xuất hiện trong Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan hay Kho tàng tục ngữ người Việt (02 tập, Nguyễn Xuân Kính chủ biên).
Nhìn chung, người bình dân Việt Nam trong kho tàng ca dao tục ngữ của mình chủ yếu thể hiện những kinh nghiệm quan sát, sự tri nhận mang tính chất dân gian, bước đầu cho ta một bức tranh miêu tả bề mặt của trái vú với các định dạng: vú bánh dầy, vú tày giành, vú ếch, vú chữ tâm, vú quặt, vú mẹ, vú bà lão, vú quả dừa... Trong trường hợp cần nói giảm nói tránh để thể hiện nhã ngữ, người Việt gọi vú là oản: Gió nam đánh tốc yếm đào/Anh nghĩ oản trắng anh vào thắp nhang...
2. Những hạn chế trong miêu tả trái vú của thời kỳ văn học truyền miệng theo tôi là một tất yếu mang tính lịch sử, khi mà ý thức cá nhân, sự giải phóng cá nhân còn chưa được đề cao. Câu thơ của Hồ Xuân Hương trong bài Thiếu nữ ngủ ngày trích ở đoạn trên có thể xem là một phá cách mạnh mẽ về mặt thi pháp xét trong dòng chảy của văn học trung đại. Nữ sĩ được mệnh danh là bà chúa thơ Nôm không chỉ ca ngợi vẻ đẹp thân thể của người phụ nữ mà thậm chí còn miêu tả nó trong cái nhìn tràn trề, quyến rũ, khêu gợi và ít nhiều mang nét nhục cảm. Phải chăng câu thơ của Hồ Xuân Hương từ thế kỷ XIX đã góp phần khơi nguồn cho những cảm xúc của các thi sĩ lãng mạn thời kỳ 1932 - 1945, mạnh dạn miêu tả yếu tố nhạy cảm này từ góc nhìn của cái đẹp: Hai vú nàng, hai vú nàng chao ôi/ Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng (Bích Khê) hay Trong tay Nàng ta ngả mình ngây ngất/ Nghe rõ ràng trên thịt ấm da xuân/ Ngực dâng cao, hơi thở đã mau dần/ Mùi cỏ lá bỗng thoảng hồn mong nhớ (Đinh Hùng), Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm (Nguyễn Xuân Sanh). Một người viết văn xuôi cùng thời với Xuân Diệu và Đinh Hùng là Nam Cao cũng không ngần ngại gọi tên chính danh trái vú trong một cảm thức về cái đẹp, khi ông so sánh với vầng trăng trong một truyện ngắn nổi tiếng của mình: Trăng ôi trăng, cái vú mộng tràn đầy mà thi sĩ muôn đời mơn man... (Giăng sáng).
Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm là một trường hợp đặc biệt nữa, được ra đời vào cuối năm 59, đầu năm 60 của thế kỷ trước. Tập thơ như một giấc mơ kỳ lạ trong đời thơ Hoàng Cầm, vừa liên tục vừa đứt quãng với nhiều khoảng trắng và dấu lặng. Tính sắc dục với nhiều hình ảnh mang tính biểu tượng, trong đó có yếm và vú, là một trong những điểm nhấn quan trọng của tập thơ: Nghe nghìn muôn năm sau xoa nắn đôi bầu vú lửa (Nắng phù sa), Ngực yếm phập phồng bưởi ngọt (Hội vật), Quẩn quanh nghiêng ngửa/ Giật yếm đào túm vội đôi bầu (Hội Vân Hà).
Khép lại một giai đoạn văn học thời chiến, thơ Việt Nam sau năm 1975 mới lại bắt gặp những câu thơ hay về hình ảnh vòm ngực - trái vú, hiện lên với những cảm xúc và cung bậc đa chiều, lúc thì đắm say hạnh phúc, lúc lại tủi phận bẽ bàng: Môi mềm ngực nõn vòng tay xiết/ Anh là đá tảng cũng tan thôi (Nguyễn Trọng Tạo), Sau giây phút êm đềm trên ghế đá/ Anh quên cài khuy áo ngực cho em (Dư Thị Hoàn).
![]() |
|
Minh họa: Hữu Khoa. |
Vòm ngực của người yêu còn gắn với nỗi nhớ khó nguôi ngoai trong tâm hồn thi sĩ. Đó có thể là nỗi nhớ về những ngày tháng cũ: Áo trắng là áo trắng à/ Một hôm ta thấy bạn ta ngượng ngùng/ Vờ che ngực áo căng phồng/ Ta run rẩy ngó má hồng hây hây (Áo trắng má hồng - Nguyễn Duy). Đó lại cũng có thể là nỗi nhớ khi hai người xa cách nhau: Nỗi nhớ dâng đầy trong anh/ Khuôn mặt em nụ cười em vòm ngực trắng (Nỗi nhớ - Nhạc và lời: Phú Quang). Và nỗi nhớ ấy có khi nghẹn ngào xót xa bởi sự chia cắt phũ phàng và tàn nhẫn của chiến tranh: Trả cho anh cát bụi/ Những đêm hành quân xa/ Trả lại em nước mắt/ Lăn ngang ngực đàn bà (Hoàng Nhuận Cầm).
Một nhà thơ nữ mới xuất hiện gần đây là Đặng Hà My đã tỏ ra khá “nặng tình” với chất liệu nhạy cảm mà chúng tôi đang bàn ở đây. Tập thơ Nhiên sơ của chị có tới hàng chục bài thơ xuất hiện hình ảnh bầu vú, tất cả đều rạo rực nồng nàn và tràn trề nhục cảm khát khao: Buổi chiều bừng lên sắc thắm/ Buổi chiều loang trên vú trắng/ Hoàng hôn thủng đáy/ Đêm đa tình trôi (Giấc đỏ); Em váy ngắn, lưng anh dài vô tận/ Em ngực trần, anh bật khố mùa yêu (Khát). Nhưng tôi còn yêu hơn những câu thơ đằm sâu bởi độ chín của cảm xúc, của tháng năm mà nhà thơ Hồng Thanh Quang đã viết: Đóng cửa hờ thôi em/ Giời trao mình hơi mát/ Trái tim mệt vì yêu/ Nhưng vẫn còn cơn khát.../ Mặc tiếng sấm rền vang/ Mặc lập loè chớp nháy/ Vồng ngực trắng ngời lên/ Phập phồng như lửa cháy... (Ngẫu hứng mưa). Một nhà thơ trẻ khác cũng có cách diễn đạt hết sức tình tứ và kín đáo về bầu vú: Ta về gọi em như mưa như nắng/ Vục gầu uống trăng tháng khuyết năm tròn/ Diều cong sừng trâu tuổi mùa thơ nhỏ/ Ta lại ngờ đêm nhu nhú búp măng (Gọi về lối cũ - Nguyễn Quang Hưng)
3. Giờ xin bàn đến hình ảnh bầu vú trong thi ca của một số dân tộc khác, với những câu mà tôi từng được đọc. Các thi sĩ phương Tây như Baudelaire hay Valery đã đưa cặp vú vào thơ một cách rất tự nhiên: La femme qui est dans mon lit/ N’ a plus vingt ans depuis longtemps/ Les seins si lourds/ De trop d’amour (Tạm dịch: Người con gái đã từng nằm bên tôi/ Đã lâu rồi, hai mươi năm qua không còn nữa/ Ôi vòm ngực tràn đầy/ Nhiều như tình yêu em dành cho tôi) hay L’instant d’un seins nu entre deux chemises (Tạm dịch: Ôi khoảnh khắc bầu vú em lộ giữa hai bờ áo)... Kinh Cựu Ước của người Do Thái cũng có một câu thơ về bầu vú thật ấn tượng. Đó là câu hát ca ngợi tình nhân của vua Salomon: Ôi cặp vú em như hai con nai sinh đôi. Người Malaysia trong những bài dân ca của mình lại có cách diễn tả bầu vú rất riêng: Sakit kaki detikam jeruju/ Jeruju ada di dalam paya/ Sakit hati memandang susu/ Susu ada di dalam kebaya/ Di mana kuang bertelur?/ Di atas lata, di ruang batu/ Di mana abang nak tidur?/ Di atas dada, di ruang susu (Dẫm phải gai đau chân/ Lá gai mọc giữa đầm/ Nhìn thấy vú đau lòng/ Vú dưới yếm đầy căng/ Ó làm tổ ở đâu?/ Nơi lũng sâu góc núi/ Người tình muốn ngủ đâu/ Gối đầu trên đôi vú... Trường ca Đam San của người Ê-đê cũng có đoạn tả cảnh nhộn nhịp đông vui sau khi Đam San thắng trận và mở đại tiệc: Các chàng trai đi lại, ngực chạm ngực. Các cô gái đi lại, vú chạm vú...
Nhà văn Mạc Ngôn (Trung Quốc, Nobel Văn học 2012) đã chọn hình ảnh bầu vú như một biểu tượng quan trọng để đặt tên cho bộ tiểu thuyết trường thiên của mình là Phong nhũ phì đồn (Vú to mông nở). Người phụ nữ - nhân vật chính trong tác phẩm hiện lên như một hình mẫu lí tưởng về người mẹ nhẫn nại, vừa giàu sức sinh nở vừa chịu thương chịu khó, cả đời hy sinh vì các con. Hình ảnh bầu vú trở đi trở lại trong tác phẩm, cho đến khi khép lại cuộc đời của nhân vật chính - Thượng Quan Lỗ Thị, thì những bông hoa nở rộ sau mộ của bà và những bầu vú hiện lên dồn dập trong ảo tưởng của Kim Đồng, đứa con trai duy nhất của Lỗ Thị. Người đọc cũng không thể quên được những hình ảnh mang tính nghịch dị về bầu vú, qua hình tượng nhân vật Kim Một Vú trong tác phẩm...
4. Nhà thơ Thế Hùng đã từng viết một bài thơ cực ngắn chỉ với hai câu, mà ở đó, ông đặt một phép đối xứng giữa mẹ và người yêu: Anh lớn khôn dưới bầu vú mẹ/ Và dại khờ trước vòm ngực của em (Romance 1). Theo tôi, nếu như vòm ngực của người yêu - người tình có thể trở thành một biểu tượng về sự đắm say trong hạnh phúc lứa đôi thì chỉ duy có bầu vú mẹ mãi mãi gợi cho ta sự hy sinh thầm lặng, sự bao bọc nhân từ và yêu thương không điều kiện: Đôi làn môi con nghiêng về vú mẹ/ Như cây lúa nhỏ nghiêng về phù sa/ Như hương hoa thơm nghiêng về ngọn gió/ Đôi làn môi con ngậm bầu vú mẹ/ Như búp hoa huệ ngậm tia nắng trời/ Như búp hoa huệ ngậm tia nắng trời/ Sữa mẹ trắng trong con ơi hãy uống/ Sữa mẹ trắng trong con ơi hãy uống/ Rồi mai khôn lớn con ơi hãy nghĩ/ Hãy nghĩ những điều trắng trong... (Khúc hát ru những người mẹ trẻ, Nhạc: Phạm Tuyên, Thơ: Lâm Thị Mỹ Dạ)

