Sự lên ngôi của cận văn học
1. Cách đây vài năm, khi hai cuốn nhật ký chiến trường của hai liệt sỹ Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc được tìm thấy, được in thành sách và được phát hành rộng rãi tới công chúng độc giả, thì nhiều điều thần kỳ đã xảy ra.
Trước hết là câu chuyện thần kỳ trong ngành xuất bản: khi người ta đã quá quen với việc một cuốn sách in ra nhiều lắm chỉ đến 1.000 bản, thì con số hàng chục vạn bản của "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" và "Mãi mãi tuổi hai mươi" quả là con số trong mơ! Từ đó người ta lấy lại niềm tin, rằng văn hóa đọc (thực ra phải gọi là sự yêu thích đọc sách mới đúng) vẫn tồn tại trong công chúng.
Sau nữa là câu chuyện thần kỳ trong sinh hoạt xã hội: rất nhiều cuộc phát động học tập, làm theo tấm gương của hai liệt sỹ nổ ra và được lớp trẻ hưởng ứng một cách sôi nổi, rầm rộ, rộng khắp. Từ đó người ta vui mừng rằng, thì ra thanh niên bây giờ đâu phải chỉ biết có hưởng thụ và đóng kén trong chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, mà họ vẫn có thể xúc động trước chủ nghĩa xả thân cao đẹp, nghĩa là trong họ vẫn tiềm tàng sự khát khao được cống hiến, như thế hệ cha anh họ đã từng.
Đâu là sức mạnh làm nên những điều thần kỳ ấy? Không thể phủ nhận rằng phần chính yếu của sự thu hút, lôi cuốn mạnh mẽ như vậy nằm ở chính bản thân những cuốn sách: chúng là nhật ký, nghĩa là những ghi chép hết sức riêng tư, là những dòng tâm sự với chính mình của người viết.
Cả hai liệt sỹ Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc hẳn đều không tiên lượng việc có ngày nhật ký của mình được mở ra trước con mắt người đời. Họ đã viết, không với mục đích tạo tác động đến ai. Họ không định thuyết phục ai, và càng không định "làm văn" với ai bằng cái viết của mình, nhưng bởi vậy mà những cuốn sách trở nên đầy sức thuyết phục!
![]() |
| Minh họa: Lê Phương. |
Một số người đã so sánh hai cuốn nhật ký với văn chương đương thời và chỉ ra sự bất lực của các tác giả hiện nay: nhà văn càng cố tình "làm văn", càng lao vào đủ mọi con đường tìm tòi thể nghiệm thì tác phẩm họ viết lại càng xa lạ với công chúng. Và dĩ nhiên, như vậy thì còn lâu chúng mới bén gót những cuốn nhật ký xét về bản chất vốn không cần tới người đọc.
Không lẽ cần phải xem "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" và "Mãi mãi tuổi hai mươi" như là mẫu hình lý tưởng của tác phẩm văn học?
Câu trả lời: Không cần. Và cũng không thể! Bởi lẽ, cái hiệu ứng xã hội mạnh mẽ mà hai cuốn sách "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" và "Mãi mãi tuổi hai mươi" tạo ra chỉ là hiệu ứng xã hội của tác phẩm cận văn học. Không phải của tác phẩm văn học. Bản chất của vấn đề ở đây là kiểu loại.
Ví dụ như, cũng có chữ "nhật ký" trong nhan đề, nhưng "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" và "Nhật ký người điên" của Lỗ Tấn, chẳng hạn, chắc chắn là không thể được xếp vào cùng một kiểu loại tác phẩm, vì tác phẩm của Lỗ Tấn đích thực là văn học, còn cuốn sách của bác sỹ - liệt sỹ Đặng Thùy Trâm là cận văn học.
2. Nếu có thể gọi "văn học" (literature) là những tác phẩm ngôn từ mà ở đó chức năng thẩm mỹ được đẩy lên hàng đầu, thì "cận văn học" (paraliterature) là những tác phẩm đẩy lên hàng đầu chức năng nhận thức và/hoặc chức năng giải trí, giáo dục, dự báo v.v... (tôi nhấn mạnh cụm từ "đẩy lên hàng đầu", vì ngoài chức năng được xác định là chính yếu, trong tác phẩm có thể còn có những chức năng khác, giữ vai trò khiêm tốn hơn).
Theo cách hiểu có phần còn sơ lược như vậy, được đưa vào khung khái niệm cận văn học là các tác phẩm thuộc loại thư từ, ghi chép, nhật ký, hồi ký, tự truyện, truyện khoa học viễn tưởng, truyện trinh thám, tiểu thuyết kiếm hiệp v.v...
"Nhật ký Đặng Thùy Trâm" và "Mãi mãi tuổi hai mươi", như đã nói ở trên, là các tác phẩm cận văn học, bởi chính ở sự đậm nhạt khác nhau trong việc tự thực hiện các chức năng của chúng.
Đọc hai cuốn sách, cái được lớn nhất với người đọc là "được biết", "được hiểu" một cách trực tiếp về thế giới tinh thần, những suy nghĩ, tình cảm, quan niệm sống, quan niệm giá trị của những người (trí thức) trẻ tuổi Việt Nam dấn thân nơi chiến trường trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Cái được tiếp theo là "được xúc động", "được cảm phục" - từ đó có thể dẫn tới hành động noi gương - trước những con người là hiện thân của chủ nghĩa lý tưởng một thời. "Được khoái cảm" trước vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ ở hai cuốn sách này, nếu có, là cái được khiêm tốn nhất, vì bản thân những người viết - như đã nói - vốn chẳng mấy quan tâm đến chuyện "làm văn". Mà cái long lanh kỳ diệu của ngôn từ trong các tác phẩm nói chung, hình như là cái chẳng mấy khi có được do sự vô ý, nhỡ tay?
Thế nhưng "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" và "Mãi mãi tuổi hai mươi" lại tạo được hiệu ứng mạnh hơn rất nhiều so với bất cứ tác phẩm văn học nào, ít nhất, ở thời điểm mà hai tác phẩm cận văn học này ra mắt công chúng. Công chúng quan tâm nhiều đến "cái xã hội", chứ không phải "cái thẩm mỹ", ở chúng. Đó là biểu hiện của điều mà tôi tạm gọi là sự lên ngôi của cận văn học. --PageBreak--
Những biểu hiện tương tự, ta có thể bắt gặp trong trường hợp tác phẩm là hồi ký hay tự truyện, đặc biệt là hồi ký hay tự truyện của những nghệ sỹ nổi danh, các chính khách quan trọng, tóm lại là những nhân vật "mọc mũi sủi tăm" trong đời sống, được "vua biết mặt, chúa biết tên".
"Sống và yêu" của Lê Vân là một ví dụ. Công chúng hiếu sự vồ vập với cuốn sách này. Họ mong được biết, và đã sung sướng khi được biết những câu chuyện thâm cung bí sử diễn ra ở trong cái gia đình nghệ sỹ nổi tiếng cả nước ấy, những câu chuyện mà nếu không phải "người trong nhà" muốn tiết lộ thì "người ngoài ngõ" chỉ còn biết tự bằng lòng rằng... thiên hạ vẫn thái bình!
Những gì được kể lại trong "Sống và yêu" của Lê Vân có thể là sự phản ánh đúng, hoặc là sự bóp méo những gì đã thực sự diễn ra. Dẫu sao đi chăng nữa, cái bí mật của những người nổi tiếng vẫn luôn gây được sự tò mò của người đời.
Gần đây, hồi ký của cựu Đệ nhất phu nhân Tổng thống Mỹ Hillary Clinton, hay một loạt tự truyện của đương kim Tổng thống Mỹ Barak Obama là những ví dụ tương tự cho sự lên ngôi của cận văn học. Khi được dịch sang Việt ngữ, những cuốn sách này được độc giả Việt
Đơn giản là họ muốn biết một cách đầy đủ hơn, chi tiết hơn về những yếu nhân của cái quốc gia đang giữ vai trò có thể khuynh đảo cả thế giới: đằng sau con người của chính trường ấy là gì, tuổi thơ ấu của họ thế nào, cuộc sống riêng tư của họ ra sao, các mối quan hệ xã hội của họ, sở thích của họ, các thói tật của họ, v.v và v.v...
Một dạng khác, đang là thời sự trong đời sống sách vở hiện nay, là tự truyện của những người đồng tính nam (gay) và đồng tính nữ (lesbian). Sự xuất hiện của những cuốn tự truyện này là dấu hiệu cho thấy sự "vỡ" ra của một phương diện từ lâu đã là thực tế trong đời sống xã hội Việt Nam, nhưng do những quan niệm chật hẹp về giới, tính dục, và cả đạo đức, nó bị coi như một cái gì đó xấu xa, bị bịt miệng, bị lờ đi.
Và giờ đây, khi bản thân những người trong cuộc đã dũng cảm hơn để công khai nói về mình, lập tức tự truyện của họ khiến công chúng phải quan tâm. Bởi, những chuyện được kể trong đó thuộc một khu vực vốn dĩ là... mờ mờ ảo ảo, đầy những ngoa truyền, và vì thế nó kích thích sự tò mò của công chúng. (Dĩ nhiên, khi đọc xong những tự truyện loại này, công chúng có thể có cái nhìn thông cảm, chia sẻ hơn với người đồng tính, nhưng đó là một chuyện khác).
3. Một mảng tác phẩm cận văn học khác, tuy không phải bao giờ cũng có được sự "đăng quang" rực rỡ như mảng tác phẩm cận văn học đã nói ở trên, song nó cũng ít khi phải chịu cảnh bị đón nhận hiu hắt như vô số các tác phẩm (được gọi là) văn học tầm tầm, nhạt nhẽo. Đó là truyện khoa học viễn tưởng, truyện trinh thám, tiểu thuyết kiếm hiệp v.v...
Nhìn vào văn học dịch ở Việt
Bản dịch tiếng Việt các tác phẩm của Jules Verne (truyện khoa học viễn tưởng), của Conan Doyle, Agatha Cristine, George Simenon (truyện trinh thám), của Edgar Alain Poe (truyện kinh dị), của Kim Dung, Cổ Long, Ngọa Long Sinh (tiểu thuyết kiếm hiệp) được in đi in lại với số lượng lớn và đã làm say mê độc giả Việt Nam nhiều thế hệ.
(Nhà văn Vũ Đức Sao Biển cho biết một ví dụ: trước năm 1975, ở Sài Gòn, tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung tiên sinh khiến cho công chúng điên đảo. Cứ mỗi khi tờ "Minh báo" có in truyện của Kim Dung được gửi sang từ Hương Cảng là dịch giả Hàn Giang Nhạn bắt tay vào dịch ngay để các báo ở Sài Gòn kịp đưa in. Gấp quá, ông phải dịch miệng cho vài người khác tốc ký. Trong lúc đó, ngoài cửa, người của các tòa báo chen lấn xô đẩy để lấy bài, vì báo nào không có truyện Kim Dung thì cầm chắc là không có người mua!).
Các tác phẩm này mang lại cho độc giả điều gì? Sự giải trí. Theo nghĩa, nhờ đó họ có dịp thoát ra khỏi cái khung cảnh đời sống bình thường hằng ngày mà đa phần là rất tầm thường của mình, để được sống khoáng đạt hơn, nhiều gấp khúc và mạo hiểm hơn, nhiều ly kỳ gay cấn hơn, thậm chí nhiều sự rùng mình sợ hãi hơn. Điều đó không chỉ giúp họ tạm quên đi cuộc sống hiện tại buồn chán, mà còn giúp họ sức mạnh để sống tiếp cuộc sống hiện tại buồn chán!
Tuy vậy, khi đề cập tới mảng tác phẩm này, không nên quên rằng, thực ra cho đến bây giờ không phải đã có sự đồng thuận tuyệt đối trong việc coi chúng là cận văn học, cho dẫu chức năng lớn nhất của chúng là giải trí. Những người xem đó là văn học đích thực lập luận: chức năng giải trí sẽ không thể thực hiện được nếu tác phẩm không tuân thủ một số nguyên tắc thẩm mỹ đặc thù nào đó, theo cách riêng của nó; nói cách khác, nó thực hiện chức năng giải trí bằng và thông qua chức năng thẩm mỹ.
Điều này là đúng nếu ta xem xét tác phẩm của những nhà văn nổi tiếng vừa kể trên. Tác phẩm họ viết ra không bao giờ chỉ là cái để giải trí một cách đơn giản, nó luôn mang chứa một sự kết tinh giá trị tư tưởng nghệ thuật nào đó, một sự trăn trở với ngôn từ, với bố cục, với kết cấu, với hình tượng nhân vật v.v... để tạo ra sự độc đáo. Có thể nói, trong tập hợp các tác phẩm cận văn học, đây là mảng tác phẩm nhiều khả năng nhất để trở thành văn học đích thực, tất cả chỉ đợi tài năng của người viết mà thôi.
4. Nói về sự lên ngôi của cận văn học, tôi không định đề cập tới điều gì đó bất thường trong đời sống (Hegel từng phát biểu: tồn tại là hợp lý). Tôi cũng không định làm một sự phân biệt cao thấp giữa cận văn học và văn học, xin nhắc lại, bản chất của vấn đề ở đây chỉ là kiểu loại tác phẩm.
Trên thực tế, có những tác phẩm cận văn học tuyệt hay, như cuốn bút ký dân tộc học có tên "Nhiệt đới buồn" của nhà dân tộc học cấu trúc lừng danh thế giới Claude Levi Strauss, chẳng hạn. Cũng có vô số những tác phẩm (được gọi là) văn học cực dở, mà lẽ ra, tốt hơn cả là chúng không nên có mặt trên đời, để đỡ phí giấy in, mực in và thời gian của người đọc.
Tuy vậy, một cách chủ quan, tôi vẫn cho rằng: cận văn học cần phải trở thành văn học - giống như nguyên liệu thô phải được biến thành sản phẩm tinh. Đó là điều hoàn toàn có thể thực hiện được. Vấn đề chỉ là người viết có đủ tài năng, sự quyết tâm và độ trưởng thành trong ý thức sáng tác hay không?

