Nhà văn lớn để rồi thôi tỉnh trí
Bởi vậy, khi đánh giá họ, chúng ta nên luôn xuất phát từ quan điểm, những vĩ nhân văn học này đã sáng tạo nên những tác phẩm lớn là bởi họ đã biết cách vượt qua hoặc sống chung một cách hữu lý nhất với chính những thói hư tật xấu hay những khiếm khuyết thiên tạo ở trong chính bản thân mình.
Jonathan Swift (1667-1745)
Nhà văn Ireland gốc Anh, Jonathan Swift, nổi tiếng với khá nhiều tác phẩm cả văn xuôi lẫn thơ, trong đó có Gulliver du ký và tác phẩm châm biếm Lời đề nghị khiêm nhường.
Trong suốt một thời gian dài, Swift đã sống theo cách mà vì thế, chầm chậm nhưng ngày một đẩy ông sâu vào tình trạng mất trí. Mặc dầu, theo lời nhà văn Will Durant, “những dấu hiệu rối loạn tinh thần nhất định đã xuất hiện từ năm 1738”, nhưng không ai biết thời điểm mà Swift đã vượt qua ngưỡng “một đi không thể quay trở lại được với nếp sinh hoạt bình thường.
Cho tới năm 1742, tình trạng tâm lý của nhà văn đã vượt xa ra ngoài vòng hữu lý và ổn định. Trong một lá thư, nhà văn nhắc tới “nỗi buồn tê tái đang giết dần giết mòn thân xác và tâm hồn” ông. Đã có lúc phải cần tới 5 người để ngăn không cho Swift móc con ngươi đỏ ngầu lên ra khỏi hốc mắt mình. Sau sự cố này, Swift đã không nói không rằng suốt một năm liền. Dần dà, ông đánh mất các khả năng trí tuệ và sau đó, bị bác sĩ chẩn đoán ông mắc bệnh mất trí.
Swift qua đời ngày 17/10/1945 và được chôn tại ngôi nhà thờ Saint Patrrick ở Dublin, nơi ông từng làm linh mục, cạnh mộ cô người yêu đầu tiên là Esther Johnson, Trên mộ chí là dòng chữ mà ông đã soạn sẵn cho mình trong bản di chúc từ năm 1740: “Tại đây yên nghỉ Jonathan Swift, linh mục trụ trì nhà thờ này, và sự phẫn nộ khắc nghiệt sẽ không còn giày vò trái tim ông ấy nữa. Hãy đi tiếp nhé, lữ hành ơi, và hãy noi gương, nếu có thể, người đã dũng cảm đấu tranh cho tự do!”.
Edgar Allan Poe (1809-1849)
Tâm trí của ông tổ thể loại trinh thám hình sự người Mỹ Edgar Allan Poe, cũng đã chứa đầy những quỷ sứ vốn tràn ngập trong các truyện ngắn u ám của ông. Sau khi vợ ông qua đời, Edgar Poe từng thú nhận: “Theo tính chất thân xác của mình, tôi rất dễ bị ấn tượng và động trí, ở mức độ rất cao. Tôi đã hóa dại, với những giai đoạn kéo dài của sự tỉnh táo kinh hãi”. Chưa tới tuổi tứ thập, Edgar Poe đã bị ám ảnh bởi những ảo giác nặng nề. Nhà văn luôn có cảm giác là mình đang tìm thấy tình yêu và có lúc đã còn định tục huyền. Thêm vào đó, càng ngày Edgar Poe càng trở nên nát rượu hơn và bị suy giảm các khả năng trí tuệ.
Tới mùa thu năm 1849, một chuyện kỳ bí đã xảy ra. Tháng 9 năm ấy, nhà văn đã trình bày rất thành công bài giảng về nguyên tắc thi ca ở
Chỉ biết rằng, ngày 6/10/1849, người ta tìm thấy Edgar Poe đang lang thang thất thểu trong cơn mộng du trên đường phố
Lev Tolstoi (1828-1910)
Tác giả của Chiến tranh và hòa bình và Anna Karenia nổi tiếng với những cốt truyện phức tạp và những ngoại đề triết học lịch sử kỳ dị. Khi dựng nên đội ngũ những nhân vật đông đảo của mình (dễ tới vài trăm người!), Tolstoi muốn nhờ thế để thoát khỏi sự ám ảnh của nỗi buồn và nỗi sợ hãi luôn song hành với ông trong những kiếm tìm vật vã các cách trả lời cho những câu hỏi đắng đót nhất trong kiếp nhân sinh. Đại văn hào Nga thường xuyên bị rơi vào trạng thái trầm cảm sâu sắc và kéo dài.
Năm 83 tuổi, ngày 10/11/1910, Tolstoi đã quyết định bỏ nhà đi làm nhà khổ hạnh lang thang. Thật đáng tiếc là sau một số chuyến đi không nghỉ và vô mục đích, khi ông muốn tới dừng chân tại một tu viện có người em gái Maria làm mẹ bề trên, ông đã bị viêm phổi và phải dừng chân tại một nhà ga nhỏ là Astapovo (ngày nay được mang tên ông) thuộc tỉnh Lipets. Và ông đã qua đời tại đó ngày 20/11/1910. Xác ông đã được mai táng một cách đơn giản trong một nghĩa địa nông dân cách điền trang Yasnaya Polyana khoảng 500 m.
Virginia Woolf (1882-1941)
![]() |
| Jonathan Swift, Edgar Allan Poe, Lev Tolstoi, Ernest Hemingway và Virginia Woolf. |
Đằng sau những câu văn cháy bỏng của Virginia Woolf, một trong những tiểu thuyết gia nổi tiếng nhất ở Anh trong nửa đầu thế kỷ XX với những tác phẩm được coi là kinh điển của “dòng chảy ý thức”, không chỉ là một tinh thần sáng tạo độc đáo mà còn là cả những khúc quanh gập ghềnh của số phận nhà văn. Woolf đã mồ côi mẹ năm 13 tuổi và đây là sự kiện làm nữ văn sĩ tương lai đau đớn khôn nguôi. Và không bao lâu sau đó, người chị gái Stella cũng qua đời càng làm cho
Trong suốt cả cuộc đời mình, Woolf đã phải đấu tranh với những cơn khủng hoảng tinh thần trầm trọng. Bà luôn bị ám ảnh bởi những trận đau đầu, những ảo giác cũng như những tiếng nói huyền bí luôn văng vẳng bên tai, đến mức đã bị suy sụp tới mức không chỉ một lần định tự vẫn.
Khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, nỗi lo sợ cho tương lai của người chồng gốc Do Thái lại khiến các cơn khủng hoảng thần kinh của Woolf trỗi dậy. Rồi ngôi nhà của họ ở thủ đô
Ernest Hemingway (1899-1961)
Trạng thái tâm lý của tác giả lớn trong nền văn học Mỹ thế kỷ XX cũng đã luôn ở mức độ rất đáng lo ngại. Trong phần lớn cuộc đời của mình, Hemingway, cũng như nhiều nghệ sĩ vĩ đại khác, bị phụ thuộc rất nặng vào rượu. Cũng có những chẩn đoán bệnh khác đối với ông, từ rối loạn thần kinh lưỡng cực và tổn thương não tới căn bệnh nhân cách yêu mình thái quá…
Sự thực là Hemingway đã mắc khá nhiều căn bệnh về thể chất khác, như huyết áp cao và tiểu đường. Thế nhưng, trong những năm cuối đời, sau khi Hemingway từ
Khi cần thiết, ông cũng không thể viết được thậm chí là chỉ vài ba câu chào mừng. Và trong cơn bi phẫn, Hemingway đã từng nói: “Những viên bác sĩ đã chữa bệnh cho tôi bằng liệu pháp sốc điện, hoàn toàn không hiểu gì các nhà văn cả. Hãy để cho tất cả các bác sĩ tâm lý thử viết văn đi để hiểu làm nhà văn nghĩa là như thế nào! Tại sao lại phá hủy óc tôi và xóa đi trí nhớ của tôi để ném tôi ra bên lề cuộc sống, đó chính là tất cả vốn liếng của tôi cơ mà!”.
Thêm vào đó, ông còn bị ám ảnh bởi căn bệnh tưởng, rằng ông đã bị Cục Điều tra Liên bang (FBI) theo dõi. Ở đâu ông cũng ngỡ là có điệp viên FBI bám theo và ngồi chỗ nào ông cũng nghĩ rằng xung quanh đã gắn đầy các máy nghe trộm. Nhìn thấy người đi ngoài đường ngang qua, ông cũng tưởng đấy là “cớm chìm”…
Và chỉ vài hôm sau khi xuất viện, ngày 2/7/1961, Hemingway đã tự sát bằng khẩu súng mà ông thích sử dụng khi đi săn nhất tại nhà riêng mà không hề để lại bất cứ một dòng trăng trối nào

