Mối giao duyên điện ảnh với âm nhạc

Thứ Tư, 05/01/2011, 15:06
Những ngày đầu ra đời của ngành nghệ thuật thứ bảy, âm nhạc chưa có vai trò gì, thậm chí còn chưa được tính đến khi xây dựng một bộ phim.

Và rồi người ta đã thấy âm nhạc rất cần cho điện ảnh, thì mối giao duyên giữa một nền nghệ thuật còn non trẻ với một nghệ thuật đã rất lâu đời này không có ngay những điều suôn sẻ, thuận buồm xuôi gió trong những buổi đầu gặp gỡ mặc dù trong quá trình phát triển, ngành điện ảnh càng thấy rằng âm nhạc sẽ là người bạn đồng hành, người trợ lực thật cần thiết cho sự thành công của các bộ phim. Thời kỳ đầu tiên khi chuyển từ phim câm sang phim tiếng đã xảy ra những vấn đề không dễ dàng để thu xếp ổn thỏa được ngay.

Vấn đề nổi cộm lên lúc này là phải phá bỏ rất nhiều thành tựu đã mất nhiều công sức tìm tòi đúc kết hàng chục năm về nghệ thuật của ngôn ngữ hình thể, ngôn ngữ động tác (sự chuyển động, các biểu tượng, ký hiệu… - tức là nhiều kỹ xảo, nghệ thuật của ngành kịch câm của thời kỳ phim câm), rồi cả các cách thức, kỹ thuật dựng hình, bố trí khuôn hình, góc quay, effet ánh sáng, dựng phim… của lối làm phim câm này khi mà các nhà làm phim bước vào thời đại phim tiếng đã phải ưu tiên, chú trọng rất nhiều cho phần âm nhạc và lời thoại trong một bộ phim.

Và điều này đã làm cho ngành điện ảnh đã phải đối mặt với một hiện thực phũ phàng là: phải đào thải một loại nhân sự đã cộng tác đắc lực, cũng như đã đem lại nhiều thành công rực rỡ cho thể loại phim câm. Nhiều hãng phim vì tình xưa, nghĩa cũ đã có một số ưu ái với những cộng sự cũ của họ tức là vẫn chung tình với những nghệ sĩ có nhiều công lao, đóng góp cho thời kỳ bản lề, nền móng của nền nghệ thuật thứ bảy.

Tuy vậy, bản thân một số đạo diễn, những diễn viên đã quen thuộc với thể loại phim câm đã tỏ ra không thích nghi nổi với những kỹ năng, kỹ thuật, những phương pháp mới khi chuyển sang làm phim tiếng nên mặc dù được ưu ái hay chưa cần Ban Giám đốc tuyên bố sa thải, họ đã tự động xin rút lui khỏi nghiệp làm phim.

Mặt khác thời kỳ đầu làm phim tiếng lại chưa có nhiều kinh nghiệm, tay nghề, nên các bộ phim này phần âm nhạc và phần thoại còn khá giản đơn. Âm nhạc mới chỉ dừng ở sự minh họa nghèo nàn, đơn điệu, lời thoại lại đơn giản, sơ sài, làm cho nhiều phim tiếng đã không có sự chuyển tải nội dung cũng như nghệ thuật bằng nhiều phim câm trước đó.

Những tình hình ấy đã đưa tới quan điểm: vẫn cần phải duy trì thể loại phim câm và những quan điểm này đã dẫn tới thái độ đánh giá thấp phim tiếng thời kỳ đầu tiên của một số người bảo thủ. Đó chính là những trục trặc buổi đầu trong sự chuyển đổi từ một nền điện ảnh câm sang nền điện ảnh tiếng, giữa mối giao duyên điện ảnh với âm nhạc.

Dấu mốc lịch sử từ phim câm chuyển sang phim tiếng là sự kiện anh em nhà Wargner sáng tạo thành công máy ghi âm Vitaphone vào năm 1926. Và năm 1927 người ta đã đưa được vào phim nhựa một đường ghi âm (đường tiếng). Trước đó để có phần nhạc đệm cho phim vì chưa làm được đường tiếng ở phim nhựa nên người ta phải dùng nhạc sống được bố trí ở một khu dưới màn phông chiếu phim.

Thường người ta sử dụng piano, ở Mỹ ngoài piano, nhạc cụ thông dụng đệm cho các buổi chiếu phim là cây đàn wurlitzer (một loại đại phong cầm của người Mỹ) hay người ta còn sử dụng một dàn nhạc có một vài nhạc công với nhạc cụ ngồi ở phía trước màn chiếu, giống như cách bố trí một dàn nhạc đệm cho các vở kịch nói hay kịch hát (opéra) mà ta thường thấy.

Sự phát minh ra một đường ghi âm (đường tiếng) vào phim nhựa thực sự đã mở đầu cho cuộc cách mạng của phim tiếng. Từ đó đã dẫn tới sự thay đổi to lớn và trọng đại của nền điện ảnh thế giới. Và cũng từ đó, âm nhạc - ngôn ngữ của thanh điệu thực sự trở thành một phương diện hỗ trợ đắc lực cho thành công của các bộ phim.

Âm nhạc nhằm minh họa, nhằm bồi đắp, nâng đỡ, chắp cánh cho những hình ảnh, những câu chuyện, những hành động của phim phong phú hơn, có sức nặng hơn, năng động hơn, có chiều sâu, sự hấp dẫn hơn và cũng bay cao, vang xa hơn… Có những điều, những hành động, những lời nói không thể diễn tả hết như: những gì quá tinh thế, quá lớn lao, rồi cả những niềm hạnh phúc oà vỡ tuôn trào, những nỗi buồn sâu lắng mênh mông… thì âm nhạc sẽ thể hiện hộ.

Việc sử dụng âm nhạc cho các bộ phim được thực hiện theo hai hình thức hay có thể gọi là theo hai xu hướng:

Hướng thứ nhất thường được sử dụng trong thời kỳ đầu đưa nhạc vào phim: Đó là người ta sử dụng một danh mục các tác phẩm âm nhạc có sẵn (nhạc cổ điển, nhạc dân gian, ca khúc…) đưa vào minh họa cho các hình ảnh, câu chuyện, hành động trong phim. Tiến thêm một bước trong xu hướng này là soạn lại, viết lại phối khí, hòa âm, dàn dựng lại các bản nhạc cổ điển, nhạc dân gian, ca khúc sẵn có - tức là làm mới lại những bản nhạc, bài hát đã cũ (nhạc cổ điển, nhạc dân gian, ca khúc…) để phục vụ cho ngôn ngữ hình ảnh của phim.

Trong quá trình phát triển mạnh mẽ của ngành điện ảnh thời đại phim tiếng thì xu hướng thứ hai trong việc sử dụng âm nhạc cho phim cũng đã hình thành và phát triển.

Để cho việc sử dụng âm nhạc, tức ngôn ngữ của thanh điệu tốt hơn, đắc lực hơn, có hiệu quả hơn cho việc trợ giúp những ngôn ngữ hình ảnh trong phim người ta thấy rằng cần phải sáng tác ra những bản nhạc mới để phục vụ sát sườn, hòa hợp, đồng điệu hơn cho những nội dung của các câu chuyện phim… và như vậy công việc sáng tác nhạc phim sẽ trở thành một nghề chuyên nghiệp của một số nhạc sĩ. Ban đầu loại nhạc sĩ này chưa có, nên người ta phải nhờ các nhạc sĩ đang viết nhạc cổ điển đương thời làm giúp.

Và nhiều nhạc sĩ cổ điển đương thời đã tham gia rất nhiệt tình và ham mê công việc này. Điều đó đã làm cho người ta đưa ra một nhận định hóm hỉnh gần như có vẻ là một sự đương nhiên rằng: Có lẽ Mozart, Beethoven, Tchaikovsky… nếu các nhạc sĩ này sống vào thời đại bây giờ, họ cũng sẽ thích làm nhạc phim…

Ngay từ đầu những năm 30 của thế kỷ trước, tại Hollywood đã thành lập một bộ phận âm nhạc riêng phục vụ cho việc làm phim (dàn nhạc xưởng phim). Sau này một số hãng phim lớn của các nước cũng xây dựng một dàn nhạc riêng cho xưởng phim của mình. Ngành điện ảnh Việt Nam trước đây cũng có một dàn nhạc.

Thông thường dàn nhạc của một xưởng phim có đầy đủ biên chế của một dàn nhạc lớn: từ giám đốc điều hành, nhạc trưởng và các nhạc công, các nhạc sĩ sáng tác nhạc phim.

Nhiệm vụ của bộ phận này của xưởng phim là: phải biến thứ ngôn ngữ âm nhạc - ngôn ngữ của thanh điệu - ngôn ngữ của nghệ thuật thính giác phải hỗ trợ đắc lực nhất cho việc thể hiện hiệu quả nhất của ngôn ngữ nghệ thuật thị giác.

Trong lịch sử điện ảnh thế giới đã có nhiều tài năng âm nhạc được vinh danh ở thể loại nhạc phim. Và sau này trong các liên hoan phim, giải thưởng âm nhạc dành cho một phim cũng được đánh giá ngang bằng với các giải thưởng khác.

Chúng ta đã thấy nhiều bản nhạc, ca khúc của các bộ phim ở nhiều thời đại trở thành những bản nhạc, những ca khúc bất tử, vượt thời gian, được yêu thích, ngợi ca ở mọi thời đại, thí dụ như "A Time for us" (trong phim Roméo và Julies), "Casablanca" (trong phim Casablanca), "The Godfather" (trong phim Bố già), "My heart will go on" (trong phim Titanic)…

Một nhạc sĩ nhận được một giải Oscar cho nhạc phim của mình cũng rất đỗi tự hào và đầy danh giá. Có nhận xét: "Âm nhạc là ôsin cho điện ảnh", nhưng đấy là những nhạc sĩ bình thường; còn những nhạc sĩ tài ba, âm nhạc của họ sẽ như là một bà đỡ cho những câu chuyện phim giúp sức cho các bộ phim gặt hái được những thành công lớn.

Quá trình phát triển của ngành điện ảnh, đặc biệt các phát minh mới trong khâu thiết bị, máy móc kỹ thuật ngày càng giúp cho phần âm nhạc của phim được phát huy tối đa những mặt tích cực, mặt mạnh của mình. Chẳng hạn việc sáng chế ra cách làm âm nhạc lập thể - kỹ thuật Dolby Stereo làm cho việc sử dụng âm nhạc cho phim tăng hiệu quả gấp bội.

Không những thế, với hệ thống kỹ thuật Dolby Stereo rồi đến hệ thống 5.1 (dành để nghe âm nhạc cổ điển cũng như nhiều thể loại âm nhạc khác nhau), rồi bây giờ là hệ thống 3D… đã làm cho một loại hình mới của phim tiếng ngày càng phát triển mạnh mẽ và được một số lượng đông đảo khán giả ưa thích: đó là thể loại phim, băng, đĩa ca nhạc rất thịnh hành trong thời hiện đại và đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của mỗi người, đặc biệt là giới trẻ.

Và như vậy, ở các thể loại phim ca nhạc thì ngôn ngữ hình ảnh, ngôn ngữ thị giác (hiểu đây là ngành điện ảnh) lại làm ôsin cho âm nhạc và những đạo diễn ở thể loại phim này giỏi, cũng là "một bà đỡ" hữu hiệu cho các loại phim, băng đĩa của lĩnh vực này thành công

Nguyễn Hào Hải
.
.
.