Cái mặc ở đất Thăng Long

Thứ Sáu, 21/05/2010, 10:03

Có một vấn đề xã hội luôn được các thế hệ kế tiếp nhau quan tâm: trang phục. Điều đó càng được bộc lộ rõ ở những người mang nếp sống thị thành, mà tiêu biểu là các chàng trai, cô gái Hà Nội xưa nay. Lề lối sinh hoạt xã hội, sắc thái văn minh của đất nước dường như thường/bao giờ cũng kết tinh và phát triển từ đây.

Bạn trẻ dễ lầm tưởng mảnh đất núi Nùng, sông Nhị vốn chỉ có độ tuổi nghìn năm! Nhà sử học và nhà khảo cổ học, sau kỳ công tìm kiếm, mách bảo: Khi Hùng Vương dựng nước Văn Lang, Hà Nội đã là một vùng quê khiêm tốn. Người Hà Nội khi đó mang vẻ đẹp chung của cả cộng đồng Lạc Việt. Chưa nói đến những dấu vết xăm mình, những kiểu tóc. Chỉ riêng quần áo, ông bà ta cũng đã lựa chọn, sáng tạo từ điều kiện sống và hoàn cảnh sinh hoạt cho phù hợp với điều kiện cư trú, làm ăn ở miền nhiệt đới, vừa tiện dụng, vừa đẹp theo quan niệm xã hội hiện thời.

Lọc ra từ những hình vẽ trên trống đồng, thạp đồng, những chuôi dao hay những cuộc diễn xướng hội hè vốn được các nhà khoa học chuyên ngành cho/khẳng định là do ông cha ta sáng tạo ra từ nhiều nghìn năm trước, có thể nhận thấy, nam giới thời Hùng Vương dựng nước dường như đã mang nặng trọng trách gia đình, phải lên rừng, xuống biển vất vả nên sống thường đơn giản. Vậy là các chàng trai đã đến với "mốt" thời trang: Khố. Tuy vậy, vẫn có thể "diện" nhiều loại: Người cẩn thận thì dùng khố dây, kéo chằng nịt xuống, đuôi khố thả vừa chấm mông; người thích cầu kỳ, vấn vạt khố hai vòng quanh bụng. Và sang hơn, đem thả đuôi dài lủng lẳng phía sau…

Trong khi đó, lối ăn mặc của các bà, các chị ta ngay từ buổi đầu ấy đã… rườm rà, phức tạp. Trên đầu trùm chiếc khăn vắt thành chóp nhọn. Áo cánh xẻ ngực mặc ngoài, che cho chiếc yếm bên trong. Quanh bụng quấn dây thắt lưng có hình trang trí. Và váy! Các cô gái thường mặc váy chui hay có người gọi là váy kín. Để cho thướt tha, váy thường được buông chùng sát gót. Chiếc váy xuôi thân người mặc gần như hình chữ nhật, cũng được trang trí, thắt lưng thả buông trước bụng, sau lưng. Chưa hết, còn loại váy mở, quấn chặt ngang thắt lưng, ngắn đến gối. Rồi mỗi khi đến những ngày hội, ngày lễ tiết trong năm, ngoài thường phục, các cô gái Hà Nội cổ xưa còn cho ra mắt những chiếc váy xoè, làm bằng lông vũ hoặc lấy lá cây đan dệt nên.

Chỉ bấy nhiêu thôi mà có lẽ phải qua hàng nghìn năm, người Hà Nội cổ xưa mới định hình được mấy đường nét ăn mặc, bền vững, trường kỳ theo quan niệm sống và tư duy thẩm mỹ dân tộc, đủ sức chống ách đồng hoá của kẻ thù phương Bắc.

Sau giấc mơ huyền thoại "Rồng bay" rất đẹp, mảnh đất nơi đây đã trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá. Một đô thị phong kiến với lầu son gác tía và cảnh sắc bừng lên. Cung cách ăn mặc cũng vì thế được đổi thay và bắt đầu nhiễm tính lớp lang theo sự phân hoá các thành phần xã hội. Vào thời Lý, các dấu vết còn in đậm nét từ nghệ thuật chạm khắc tại các di tích văn hóa vật thể, đến các văn bia hay các cuốn chính sử rất rõ. Trước hết là vua: một chiếc áo vàng (hoàng bào) thêu móc cầu kỳ, một chiếc quần tía, đôi hài mũi cong. Dân tình phần lớn vẫn ăn mặc như xưa. Chỉ có quan lại và sĩ phu mặc quần áo thâm, cổ áo vòng cao lên cài khít lấy cổ, thân áo chia làm bốn mảnh (áo tứ thân). Quân sĩ do nhiệm vụ và thân phận của mình thì vẫn đóng khố, cởi trần. Các cô gái đa số vẫn xống áo như xưa, ít trang trí nên bớt phần làm đỏm.

Sang thời Trần, nếp ăn mặc có quy định chặt hơn, từ trên xuống dưới. Thoát thai từ cảnh vạn chài, con cháu nhà Trần dần dần chiếm lĩnh và giữ trọng trách tại nhiều "nấc thang" trong xã hội Đại Việt. Ngay các cửa quan, nhiều người mang dáng nho sĩ, đàn ông trùm đầu bằng khăn lụa, buộc túm phía sau, đỉnh khăn cài thêm móc sắt. Nam giới đều mặc áo tứ thân, quần đen như thời Lý. Phụ nữ ngoài tấm yếm cổ truyền ra, còn mặc thêm áo lót trắng, hoặc nâu… Màu sắc quần áo chủ yếu dùng trắng, đen, nâu. Còn xanh, đỏ, tía, vàng được dành cho con cái các nhà quyền quý.

Đến thời Lê - Nguyễn, áo quần trở nên khởi sắc. Các loại vải dệt ngày một nhiều, có thêm vải tốt và đẹp, được trai gái ưa dùng như the, lụa, gấm, vóc… Năm cửa ô tấp nập người mua kẻ bán mặt hàng "tự cung tự tiêu" này. Có loại rất được phụ nữ ưa chuộng dùng may váy hoặc quần như lĩnh. Cũng nói thêm, từ váy sang quần, các cô gái đã một thời bị ông bà đay nghiến, gièm pha! Nam giới thì mặc quần vải. Kẻ phong lưu may bằng lụa trắng. Người cầu kỳ dùng the hoặc thêm sa, xuyến mỏng manh mặc phủ bên ngoài. Nam giới thường dùng quần trắng khi rong chơi và mặc quần nâu/riềm bâu lúc lao động. Đến đầu thế kỷ XX, khi văn minh phương Tây theo gót giày Pháp nhập vào, nhiều chàng bắt đầu diện áo cổ cồn, có thêm cổ phụ bên trong ló ra gặp khi trời nóng. Và thêm cảnh  "Giày giôn anh dận, ô tây anh cầm"!

Riêng các cô gái, quần áo mỗi ngày một phức tạp theo cái nhìn cũng mỗi ngày một phức tạp thêm của xã hội dõi vào, nhất là phái mạnh. Có một kiểu áo ta còn gặp trên bức tranh dân gian Hàng Trống tuyệt đẹp: "Cô Tố Nữ" đầu thế kỷ XX. Và cũng đến buổi này, người Hà Nội đã dần dần dùng quần chứ không/ít dùng váy. Chiếc "quần không đáy" lầm lũi trở về với luỹ tre xanh ngoài năm cửa ô và các làng xã khắp vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ. Xem kỹ tranh và lần theo thực tế, thì thấy: Chiếc áo dài tứ thân luôn được cải biến ở kích áo, vạt áo để thành tấm áo cô Tố Nữ; rồi chuyển dần sang chiếc áo tân thời về sau. Nó làm cho đường nét thắt đáy lưng ong ở các cô được tôn lên mềm mại, óng ả.

Và rồi, văn minh Âu Tây ùa vào, để dấu ấn trên sắc phục buổi giao thời: áo lót mỏng, khăn san, quần trắng mỏng. Thẩm mỹ con người không ngừng biến động. Áo nâu, quần đen (thâm) và sắc phục màu xanh, áo trấn thủ lăn lộn trên chiến trường và lao động.

Hòa bình lập lại trên đất Bắc chẳng được bao lâu (1954), người Đô thành lại cùng chốn thôn quê lâm vào hoàn cảnh chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Không khí chiến tranh cũng làm cho công nghệ làm ra vải vóc nghèo nàn, đơn điệu. Vải nội gần như chủ yếu được xuất từ một số làng nghề dệt ven đô với lụa tơ tằm, và đặc biệt là lò dệt Thành Nam (Nam Định), quẩn quanh kaki, xanh sĩ lâm, chéo xanh bên cạnh đôi ba mặt hàng nhập khẩu/viện trợ từ Liên Xô, Trung Quốc và một vài nước xã hội chủ nghĩa anh em: xi-mi-li, Tuýp-xi pha len, ka-ki Trung Quốc, ka-ki Liên Xô.

Vắng bóng ngoại xâm trực diện, người Hà Nội rộ lên sắc màu và kiểu cách ăn mặc từ loại vải nghèo nàn khiêm tốn trên. Chiếc áo sơ mi giờ đây liên tục được cải tiến hình hài cùng những "mốt" quần tuýp, quần loe, do không hợp điều kiện chiến tranh nên nhiều năm bị cấm đoán, dọc, cắt ven đường! Với các cô gái Kinh đô, áo quần chủ yếu dùng gam màu tối, may mặc sao cho tiện lợi. Còn những cánh áo trắng tinh khiết, sang trọng, do yêu cầu ngụy trang phòng không, gần như chỉ được chưng diện chớp nhoáng dưới các vòm cây hoặc âm thầm trong những đêm hôm nhập nhoạng.

Đất nước thống nhất (1975), bên cạnh sự hợp lưu của tình cảm, kinh tế, chính trị là văn hóa, trong đó có điệp trùng mối giao thoa của nếp sống ăn mặc, thời trang! Có thể nói, thời cơ thuận lợi cho các loại thời trang từ Sài Gòn hoa lệ đẫm chất Tây Âu tràn ra nhập vào hệ thống hiện còn nghèo nàn của thẩm mỹ thời trang Hà Nội, báo hiệu cho sự khởi đầu cao trào sinh hoạt thời hiện đại. Từ những bộ cánh sang trọng dùng cho nghi lễ, cưới xin đến những bộ quần áo ngủ (pijama) đủ mọi sắc hoa, cùng kiểu áo dài Huế, áo bà ba Nam Bộ,… được người Hà Nội chưng diện khắp hang cùng ngõ hẻm cho đến đại lộ, công viên, ngày thường cũng như hội hè, đình đám.

Phải từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở đi, bộ mặt văn hóa Đô thành dường như mới bắt đầu bước vào thời kỳ phục hưng/cách tân mạnh mẽ. Điều kiện kinh tế, giao lưu của xã hội phát triển, mở mang là nền tảng vật chất và tinh thần vững chắc cho thời trang Thăng Long cất cánh. Dấu ấn trong phong cách ăn mặc người Thủ đô đi từ tĩnh lặng, hòa trầm, phần nào chắp vá, đơn điệu dần dần đến chặng đường sôi động, náo nhiệt, muôn hình vạn trạng, làm lộ ra dáng vẻ khởi sắc theo chiều hướng "thả phanh" của bộ mặt phố phường.

Bên cạnh sự du nhập kiểu cách từ phim trường hoặc các công nghệ truyền thông Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ quốc và hàng loạt các quốc gia khác có người Việt hành hương qua lại, tầng lớp nghệ sĩ như mối trung gian, vừa chuyển tải các mốt ngoại nhập, vừa tham gia sáng tạo cho thời trang nước Việt thêm đa dạng kiểu cách, đa sắc màu. Vóc dáng của người Hà Nội thanh lịch năm xưa dần bị lấn át bởi thời trang Hà Nội hiện đại phá cách, tân tiến. Và đương nhiên, trong dòng thác thời trang dội về như lũ ấy, cộm lên không ít những kiểu cách trang phục hở hang lạc lõng, ngược thời, xa lạ với thẩm mỹ và cốt cách ăn mặc thuần phong mỹ tục của cư dân Tràng An văn hiến!

Như thế đó, trên con đường cải biến phục trang, người Hà Nội luôn tìm cho mình một cung cách ăn mặc độc đáo hài hoà, sinh động và đẹp mắt. Người Hà Nội chân chính bao giờ cũng có quan niệm sinh hoạt/thẩm mỹ bộc lộ một trình độ văn hoá cao. Nhạy cảm với cái mới, sáng tạo ra cái mới là đặc tính của tuổi trẻ Hà thành. Kết hợp những giá trị thẩm mỹ truyền thống - hiện đại trong ăn mặc một cách hài hòa là điều cần thiết và còn tuỳ thuộc vào tầm hiểu biết, trình độ nhận thức và trình độ thẩm mỹ của từng người Hà Nội hôm nay

Bùi Quang Thanh
.
.
.