Tướng cướp hoàn lương
Đức Tân tên thật là Nguyễn Tích Đức, sinh ra và lớn lên tại xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Thuở nhỏ, Đức là một người con hiếu thảo, là một học trò ngoan, có tài làm hò vè để giễu những thói hư, tật xấu của những người trong làng. Những năm chiến tranh, nhà nghèo, bố thì đau ốm, một mình mẹ anh phải lo gánh vác cả gia đình với 7 người con, nên cho dù ham học, Đức cũng phải từ bỏ ước mơ cắp sách đến trường khi mới vào lớp 7. Ngày ngày anh đi làm công ở tổ sơn mài mỹ nghệ và gia công mì sợi của HTX Đông Mỹ, đêm thì tranh thủ đan rọ tôm để mẹ đi bán lấy tiền đong gạo.
Tuổi thơ của Đức khá yên bình cho dù vất vả cực nhọc với hàng chục nghề để kiếm sống. Thời ấy, Đức ý thức rằng, cả làng, cả nước khổ, chứ đâu chỉ riêng gia đình anh. Đức thì được cả thôn biết đến và yêu quý vì sự vui tươi, hóm hỉnh. Anh còn hăng hái hoạt động trong Đoàn thanh niên và với lợi thế thuộc nhiều ca dao, tục ngữ, Đức còn kiêm luôn cả nghề làm chủ hôn lễ cho những đôi uyên ương. Chuyện tình yêu đã đến với Đức rất tình cờ trong những lần đi làm chủ hôn ấy. Năm 20 tuổi, Đức cưới vợ, mặc dù gặp phải sự ngăn cấm của gia đình. Nhưng với một tình yêu sét đánh, Đức đã quyết tâm chọn cô gái ấy là một nửa cuộc đời mình.
Một năm sau họ sinh con đầu lòng. Tình yêu lãng mạn của đôi trẻ cũng nhanh chóng phải đối mặt với chuyện cơm áo gạo tiền. Con cái ốm đau liên miên đi hết trạm xá này đến bệnh viện nọ. Bố Đức thì bị bệnh lao phổi hành hạ, mẹ cũng chợ búa qua ngày mớ rau, mớ tép... Tiền hết gạo không đã khiến gia đình Đức lâm vào kiệt quệ. Túng quá hóa liều, Đức đã cùng mấy thanh niên trong xóm đi trộm thuốc bắc của một gia đình làm thuốc để tiêu thụ. Chuyện bại lộ, Đức bị bắt và bị giam 6 tháng, sau đó được hưởng 1 năm án tù treo.
Những ngày tháng bị giam giữ trong nhà tù, Đức đã nghĩ về tương lai và quyết trở về sẽ tu chí làm ăn. Đức xin vào Nhà máy bê tông Ba Lan ở xã Thịnh Liệt. Với sức trẻ năng nổ nhiệt tình, Đức hăng say làm việc và đã nhận được bằng khen lao động giỏi của cấp trên. Anh được bầu làm Đội trưởng sản xuất. Những tưởng cuộc đời Đức như vậy là đã an bài, nào ngờ tai họa lại một lần nữa ập xuống. Với bản tính bộc trực, thẳng thắn, lại làm được việc, Đức đã đôi lần làm phật ý cấp trên. Khi công ty gặp khó khăn, Đức đã bị liệt vào hàng những người bị giảm biên chế. Thất nghiệp, buồn chán, Đức đã nhảy tàu đi buôn chuyến Lào Cai - Yên Bái, sau đó, anh chuyển hướng cùng vợ vào Nghệ An buôn vừng, lạc, đậu... Khéo xoay xở, vợ chồng Đức đã làm ăn có lãi và đã có đủ tiền xây được căn nhà cấp 4. Không những làm ăn phát đạt, Đức còn là một "anh hùng" ra tay cứu người.
Vùng Đông Mỹ năm 1983 có 2 cô gái giỏi võ con nhà gia thế chuyên đi cướp của đánh người, ngang ngược đến nỗi, thích gì của ai là lấy mà không cần hỏi. Một lần chúng đã hành hung đòi tiền của vợ Đức, chị không đưa, chúng đã đánh, phá cả hàng quán. Biết tin, Đức đã cùng nhóm bạn ra tay "dẹp loạn". Đó là một trận ẩu đả làm náo loạn cả mấy thôn trong vùng. Kết thúc cuộc ẩu đả, hai chị em nhà nọ đã bị đánh trọng thương và vào viện cấp cứu. Đức bị bắt, nhưng dân làng cảm phục trước hành động "hảo hán" của Đức nên đã làm đơn xin ân xá cho anh được trở về đoàn tụ cùng gia đình.
Ra khỏi trại giam, Đức lại trở về với những chuyến đi buôn còn đang dang dở. Đầu năm 1985, Đức quyết định đánh một chuyến hàng lớn, 5 tấn lạc từ Nghệ An đã được chở ra Bắc, nhưng chuyến hàng lậu đó đã bị bắt giữ. Bao nhiêu tài sản dốc vào cuộc ấy đã khiến Đức trắng tay. Chán đời, Đức lao vào rượu chè, đề đóm và thuốc phiện. Anh bán lần lượt những thứ sắm được trong nhà, khi mọi thứ đã hết, anh bán luôn cả căn nhà, nơi trú ngụ cuối cùng của vợ con anh để lao vào đề đóm, hút chích. Vợ con Đức dắt díu nhau dựng một căn lều tạm bợ sống qua ngày, còn Đức thì phiêu bạt trên các chuyến tàu Bắc -
Trên con đường làm ăn bất chính ấy, một lần Đức bị Cảnh sát đường sắt Đà Nẵng tóm gọn và đưa vào trại giam. 3 ngày sau Đức trốn thoát. Đức chạy bộ trong đêm qua đèo Hải Vân, cải trang và đón xe khách trở về nhà. Ở quê khốn khó, Đức lên Hà Nội, “lượn” các phố lớn như phố Huế, Hàng Bài, Tràng Tiền... để tiếp tục trộm xe đạp. Ít thì đôi ba ngày một chiếc, nhiều thì hai ba chiếc một ngày. Nhưng dường như, ông trời có mắt, cho dù rất láu cá chuyển địa bàn hoạt động liên tục nhưng cuối cùng Đức cũng phải sa lưới pháp luật.
Tháng 4/1988 Đức bị Công an Cầu Giấy bắt về tội trộm cắp xe đạp. Tháng 8 cùng năm, Công an Hoàn Kiếm bắt lần nữa. Đầu năm 1989, bị Tòa án nhân dân Hà Nội chưa kịp triệu ra tòa nhưng Đức đã trốn vào Quỳ Châu, Nghệ An, nơi anh từng buôn đá đỏ. Đức tìm đến nhà ông bố mẹ nuôi, lừa được hơn 1 cây vàng, và đưa vợ con trốn vào thị xã Long Xuyên. Ở đó, vợ Đức bán đậu phụ, còn Đức thì đạp xích lô. Nghề này kiếm được ít tiền nhưng ít nhiều mang lại cho Đức sự thanh thản vì dẫu sao đó cũng là những đồng tiền sạch sẽ, do chính công sức lao động mà có. Đến Tết Nguyên đán 1992, dành dụm được ít tiền, anh đưa vợ con về thăm quê. Gặp lại những bạn bè cũ, con ngựa bất kham quay trở lại con đường nghiện ngập, lô đề. Để có tiền trả nợ và vào
Lần này Đức không dám trốn tù mà nguyện tu thân, tích đức. Những ngày tháng ở tù dài dằng dặc đã lay động chút nhân tính của kẻ giang hồ. Có lần vợ Đức đến thăm, nhận những đồng quà tấm bánh từ tay người vợ tần tảo, nghe kể chuyện mẹ hiền ốm đau, con cái nheo nhóc, đói khổ, lòng Đức bỗng nhói lên khát vọng làm người lương thiện. Đức giày vò mình bằng ý nghĩ anh là đứa con bất hiếu, là người cha vô lương tâm. Đức muốn được trở về căn nhà dột nát để an ủi người mẹ hiền vì đã sinh phải đứa con hư. Muốn được ôm vào lòng đứa con trai bé bỏng chưa một lần được cha cưng nựng. Trong những giây phút sám hối trong trại giam Phú Sơn, Đức viết ra những vần thơ đầu tiên để tạ tội với người mẹ của mình: "Mẹ ơi!/ Con xin quì tạ tội trước bình minh/ Lòng nguyện hứa từ nay không vương tội/ Thương con nhiều mẹ ơi thứ lỗi/ Kể từ nay con sống xứng làm người/ Nguyện xây mãi nụ cười trong mắt mẹ."
Cũng từ giây phút lóe sáng của tính bản thiện, Đức học được chữ "nhẫn" để mong mỏi sớm trở lại với cuộc đời. Đức liên tục là phạm nhân cải tạo tốt, Đức còn diễn kịch, làm thơ tặng vợ, tặng bạn tù với sự khát khao hơi thở đời sống thường nhật: "Đêm đêm nghe tiếng vọng vang/ Tiếng ngoài xã hội rộn ràng trong đêm/ Đã buồn lại thấy buồn thêm/ Khát thèm cuộc sống ấm êm ngoài đời"... Có lần anh nói với một bạn tù: "Thời giang hồ, được thì chẳng có gì, những cái mất thì đã rõ, và phải đánh đổi nửa đời người tôi mới rút ra được: Lấy nhân từ thắng quỷ ma. Lấy lao động để tránh xa nhục hèn".
Với những thành tích đáng biểu dương, Đức đã được giảm án để trở về với cuộc đời sau 3 năm cải tạo. Cùng thời gian ấy, Đức có hành trang là một tập thơ dày gần 200 trang mang tên "Giang hồ rẽ lối", nó là câu chuyện được kể bằng thơ về cuộc đời của một kẻ giang hồ từng nghiện ngập, ra tù vào tội nhưng đã biết hối cải để ngửa mặt lên nhìn cuộc đời. Với bút danh Đức Tân, Nguyễn Tích Đức mong muốn sẽ có một tương lai tươi sáng để lãng quên những tháng ngày đen tối của chặng đường đã qua.
Giờ đây, sau 2 lần tái bản, cuốn sách "Giang hồ rẽ lối" (NXB Thanh Niên) cũng đã đến được với đông đảo bạn đọc. Hơn ai hết, Tân muốn nó là lời cảnh tỉnh của một người đã phạm phải những sai lầm của cuộc đời hãy tỉnh ngộ khi còn chưa quá muộn. Trong nhà Tân, hiện nay có hàng tải thư anh vẫn xếp gọn gàng như một kỷ vật duy nhất đáng giá với cuộc đời lầm lạc của mình.
Giáo sư Vũ Khiêu đã tặng Đức Tân câu đối: "Giang hồ rẽ lối minh minh đức/ Hiếu nghĩa căng buồm nhật nhật tân". Nhiều nhà thơ đã ở cạnh động viên Đức Tân tránh xa tội lỗi và tiếp tục đường văn thơ của mình như nhà thơ Hồng Thanh Quang, nhà thơ Trần Đăng Khoa... Có những bức thư đến từ Minh Hải (Cà Mau), lại có cả bức thư đến từ Mường La (Sơn La), có lá thư dài tới 6 trang tâm sự với anh những gia cảnh cuộc đời, chia sẻ những nỗi niềm cùng cảnh ngộ... Nhiều lá thư gửi đến để xin sách, túng thiếu Tân đã bán cả chiếc xe máy tích góp mãi mới mua được, để mua lại chính sách của mình và gửi tặng họ.
Sau những thăng trầm tướng cướp, Đức đã hoàn lương trở lại cuộc đời nhờ những nghĩa cử cao đẹp, những vần thơ sám hối và những tấm lòng bè bạn. Nhưng dường như số phận đang bắt anh phải trả món nợ đời. Trở về cuộc sống chân chính, Tân không được khỏe mạnh như xưa. Mới đây, Tân bị tai nạn phải nằm viện, vợ anh thì bị bệnh tiểu đường, các con cũng chỉ là những người lao động phổ thông. Giờ đây, gặp Đức Tân, tôi thấy gương mặt anh hằn rõ sự khổ ải. Không nghề nghiệp, không có đủ sức khỏe để lao động tay chân, đối mặt với miếng cơm tấm áo hàng ngày khiến Tân kiệt quệ.
Trước khi ra về, tôi tặng Đức Tân giấy và bút để có hứng anh lại làm thơ. Xòe bàn tay gầy run run Tân thổ lộ: "Giờ đây tôi chẳng có ước mơ gì cao sang, chỉ mong mỏi trong những tháng ngày còn lại, tôi sẽ viết và in được một cuốn tiểu thuyết tự truyện về cuộc đời mình. Mặc dù nhớ lại quá khứ là một sự nhục nhã, nhưng tôi phải viết, viết chỉ để mong rằng sự sám hối muộn mằn này may ra còn có ích cho ai đó đang lạc vào mê cung của tội lỗi sớm bước ra ánh sáng"
