Lấy chồng Hàn Quốc qua môi giới: Vị cay của món kim chi muối hỏng

Thứ Năm, 26/08/2010, 15:05
Kim chi là món ăn phổ biến, sản vật thân thuộc xứ Hàn có sức hấp dẫn đậm chất văn hoá với người xứ khác. Nhưng đó là sản phẩm xứ lạnh, quá cay đối với người Việt sinh ra ở miền nhiệt đới. Hôn nhân Việt-Hàn qua môi giới chắc  cũng không khác gì món kim chi, đã cay nhưng lại còn bị hỏng vì được muối bởi  một bàn tay Việt chưa thành thạo văn hoá, truyền thống, tập quán và nhiều thứ khác ở xứ người.

Trần Đại Nhật là một nhà thơ. Nhật đã in 2 tập thơ và một tập truyện ngắn. Mười năm nay, ngoài công việc mưu sinh, phần thời gian còn lại, Nhật dồn hết cho những công việc xã hội từ thiện liên quan đến vấn đề con lai Hàn Quốc. Bản thân Nhật cũng mang hai dòng máu, mẹ người Việt, quê ở Phú Yên, cha là một anh lính viễn chinh Hàn Quốc tham chiến tại Việt Nam giai đoạn 1967 - 1971.

Đại Nhật còn có cái tên Hàn là Kim Sang-il. Trải dài trong thơ, truyện của gã vẫn bàng bạc một nỗi khắc khoải của những đứa con  mang hai dòng máu. Mấy hôm trước, Nhật từng nói với tôi: "Thập niên 1990, lũ con lai chúng tôi quay quắt với khát khao tìm cội nguồn, khát khao được thừa nhận và khát khao đoàn tụ. Khoảng 10 năm nữa, chắc sẽ có một đợt bi kịch kiếm tìm nguồn cội của con lai khác. Lần này, nó sẽ xuất phát từ nước Hàn".

Bi kịch là điều được báo trước và gần như chắc chắn sẽ xảy ra. Cô dâu, chú rể gặp nhau trước ngày cưới chỉ chừng một tuần, có khi chỉ vài ngày. Gặp và chỉ im lặng hoặc cười trừ, ai nói nấy hiểu vì bất đồng ngôn ngữ. Cái ta thấy là cái ta sai lầm. Những tấm ảnh cưới cô dâu chú rể tay trong tay, nụ cười  rạng rỡ cùng nhìn về một hướng chỉ giống như một tấm poster quảng cáo cho một bộ phim, một vở bi kịch sắp diễn ra.

Tất cả đều do bàn tay  mối lái dàn dựng. Sau ngày cưới, những bất đồng về mọi mặt bị rào cản ngôn ngữ cản mất con đường hoà hoãn sẽ khiến người ta, không phải là chung sống mà là hành hạ nhau cho đến chết. Tất nhiên, với thời gian, không ít cô dâu Việt sẽ vượt qua điều đó, nhưng cái giá đánh đổi là sự cam chịu câm lặng, là khổ sở triền miên.

Bất chấp thực tế đó, rất nhiều cô gái trẻ ở nông thôn Việt Nam, nhất là ở khu vực miền Tây Nam Bộ vẫn háo hức với viễn cảnh  làm dâu xứ lạ. "Lấy chồng Hàn Quốc" được nhiều cô gái trẻ và gia đình họ  xem như một giải pháp để thoát khỏi đời sống bế tắc hiện tại. Tất cả đều nghèo, văn hoá đều chỉ lớp 9 trở xuống.

Các cô gái tham gia thi "tuyển vợ" trong một quán karaoke. Ảnh: H.H.

Cầm chắc ở lại quê, cái vòng nghèo, thất học, rồi thất học nên nghèo vẫn hoàn nghèo sẽ còn luẩn quẩn bám riết cuộc đời của họ. Cái cảnh chồng con nheo nhóc, anh chồng đi làm quần quật mà không ra bao nhiêu tiền nhưng đa phần vẫn sáng say chiều xỉn, không tiếc tay  chửi mắng, đánh đập vợ con  khiến họ sợ hãi.

Lấy chồng Hàn Quốc, chồng ngoại, tuy có phập phù bất trắc, nhưng nếu may mắn, họ nghĩ vẫn có cơ hội thay đổi được một thực trạng. Trong khi đó, phim Hàn Quốc tràn ngập. Chính các nhà văn, người làm nghệ thuật của chính  xứ sản sinh những bộ phim dài lê thê ấy cũng thừa nhận: đó là những sản phẩm văn hoá giải trí bình dân, cỡ trình độ… lớp 4.

Năm 2003, trào lưu lấy chồng Hàn Quốc thông qua môi giới mới manh nha nối tiếp và thay thế trào lưu lấy chồng Đài Loan, có hai phóng viên hãng MBC (Munhwa Broadcasting Corporation - Đài truyền hình văn hoá) đã sang nhờ chúng tôi giúp đỡ để làm một thiên  phóng sự về vấn đề này. Sau khi làm đủ các thủ tục cần thiết xin phép các cơ quan chức năng, tôi đã đồng ý giúp họ vì hai lý do: vấn đề họ đặt ra đáng để quan tâm và  người giới thiệu, ngỏ ý nhờ là tiến sĩ Ku Sou-jeong, thông tín viên của tạp chí Hankyore 21, lúc đó vẫn đang là nghiên cứu sinh lịch sử tại Việt Nam.

Chị Ku là nhà báo Hàn Quốc dũng cảm, từng lặn  lội một thời gian dài trên toàn miền Trung Việt Nam, tìm và đưa ra công luận 167  vụ thảm sát thường dân Việt Nam  của lính Hàn Quốc trong cuộc chiến tranh  của Mỹ  mà quốc gia  này là một chư hầu, từng khiến cả nước Hàn "lên cơn đau tim". Tôi tin chắc, những gì chị Ku đã và dự định sẽ làm liên quan đến Việt Nam đều là  những  việc nghiêm túc, công tâm và cần thiết.

Tôi giới thiệu, chị Ku phiên dịch, cuộc tiếp xúc diễn ra trong quán cà phê Givral, (Q.I, TP HCM). Ba cô gái rất trẻ, chừng 18-19 tuổi được 2 gã xe ôm chở đến ngồi ngượng nghịu, dù hai anh Hàn Quốc "có ý định tìm vợ" (thật ra là 2 phóng viên MBC) đều tỏ ra nhã nhặn, lịch sự và chưa già lắm. Nói dăm câu ba chuyện rất tào lao, gã xe ôm kiêm mối lái  đã sốt sắng: "Rồi, coi như xong, anh nói với họ  cứ đưa mấy em đi chơi đâu đó, tìm hiểu nhau đi, ưng cô nào thì để lo thủ tục. Lẹ thôi mà".

Thay vì cho gã một cái tát, cả tôi và 3 đồng nghiệp Hàn Quốc đều chỉ nén nhịn  để viện cớ chối từ. Vậy nhưng, vừa về chưa đến nhà, điện thoại của tôi đã réo. Đầu dây  bên kia là giọng  một trong ba cô gái, à không, cô bé mới đúng, dồn dập: "Anh giúp em đi. Cái anh Hàn Quốc hồi nãy trẻ quá trời, hổng có già như chồng nhỏ bạn của em. Ảnh mà hỏi, em chịu liền".

Quá đơn giản. Người ta đã nói nhiều về chuyện gã bán, hôn nhân vì vật chất trong chuyện làm dâu Đài Loan, Hàn Quốc. Nhưng với quan sát của bản thân, tôi không tin điều đó. Ngày cưới, gia đình cô dâu Thạch Thị Hoàng Ngọc chỉ được dành riêng mỗi một bàn tiệc 10 người.

Sau ngày cưới, qua mối lái, phía nhà chồng chỉ gửi cho gia đình cô vỏn vẹn 3,2 triệu đồng, vừa đủ tiền thuê xe từ Cần Thơ lên TP HCM dự đám cưới và mua ít quà cáp cho cô dâu sang Hàn ra mắt mẹ chồng. Những đám cưới môi giới  khác cũng giống  y hệt, không khá gì hơn. Gả con gái đi xa, rất xa, những ông bố, bà mẹ chân lấm tay bùn chắc sẽ chờ đợi một điều gì khác, một sự thay đổi khác biệt cho tương lai con em họ chứ không hẳn vì đồng tiền trước mắt.--PageBreak--

Tư liệu điều tra của hai đồng nghiệp MBC cho tôi biết: Muốn lấy vợ Việt Nam, chú rể Hàn Quốc phải trả cho môi giới khoản phí trọn gói trên dưới 11.000 USD, bao gồm vé máy bay đi và về, tiền giới thiệu, chi phí cho tiệc cưới và  luôn cả tiền "sính lễ" cho nhà gái.

Ít nhất 40-50% số tiền này trôi vào túi riêng của kẻ môi giới. Phần còn lại, may lắm cũng chỉ để có kết cục  là một đám cưới chừng 4-5 bàn với dăm ba tấm ảnh dâu rể tươi cười hoan hỉ. Đã thành khung giá, không thể thay đổi cho nên mức độ  1 bàn tiệc và sính lễ vài trăm USD dường như chẳng lên quan gì đến chuyện chú rể xứ Hàn hào phóng  hay keo kiệt.

Một người bình thường với đầy đủ những điều kiện bình thường sẽ chẳng mấy ai tìm kiếm hôn nhân với người xứ khác qua môi giới có trả tiền, bất chấp những rào cản khác biệt về mọi mặt. Nếu không vì tuổi tác quá thì, bệnh tật hay đơn giản là nghèo khó, một người đàn ông Hàn cũng chẳng quá khó khăn với chuyện hôn nhân như thông lệ.

Với họ, hôn nhân qua môi giới cũng là bất đắc dĩ. Khoản 11.000USD trả cho môi giới, nhiều lúc là cả một phần trong gia tài của những kẻ tha phương tìm vợ. Vì thế, khi đã đưa được cô dâu về xứ, tâm lý chung là họ sẽ tìm đủ cách "khai thác" để bù lại khoản chi phí - quá lớn đối với họ - đã bỏ ra.

Làm việc quần quật, phải chăm sóc không chỉ chồng mà còn cả bố mẹ, gia đình chồng chỉ là mức độ "dễ chịu nhất". Những gã đàn ông thuộc giới lao động nghèo, lại bất lực với cuộc sống thì thường đâm ra bẳn tính, vũ phu. Chuyện đánh đập, hành hạ là khó tránh khi vũ khí duy nhất để  giải thích, biện minh… là ngôn ngữ, các cô cũng không có nốt.

Chưa kể, nếu đức lang quân là một con nghiện hay con bệnh thì tương lai của cô dâu Việt xem ra đã chìm trong địa ngục. Bị những giấc mơ lãng mạn giản đơn xuất phát từ phim bình dân che lấp, các cô dâu Việt không nhận biết trước được điều đó. Nhà môi giới thì tất nhiên, có cạy răng cũng không bắt họ nói đúng được sự thật.

Sau những bi kịch, lương tri xã hội đang nghiêng hẳn về phía phản đối hôn nhân môi giới. Đáng tiếc, không có biện pháp chế tài đối với vấn đề. Luật bắt buộc phải có 2 lần phỏng vấn xác định sự tự giác, tự nguyện của các cô gái Việt khi đến với hôn nhân. Cả 10 cô được phỏng vấn đều trả lời 10 câu giống hệt nhau, rằng họ "tự nguyện", rằng họ muốn "xây dựng hạnh phúc với ảnh". Màu mè, giống như phim hơn có nhiều cô còn nói thêm "tuy mới gặp anh ấy lần đầu nhưng em cũng đã thấy thương thương".

Không có gì trái luật, cố nhiên Sở Tư pháp phải hoàn tất các thủ tục công nhận kết hôn cho họ, cho dù tất cả đều biết chẳng có phần trăm nào trong những câu trả  lời ấy  là sự thật. Phần xác định tiền sử bệnh tật của chú rể lại do phía Hàn Quốc chứng nhận. Với những tay môi giới, chẳng có gì dễ hơn chuyện tìm được tấm giấy chứng nhận đó!

Sau hôn nhân là bi kịch lấp ló. Trước hôn nhân bi kịch cũng đã lộ ra. Đã có hàng chục, hàng trăm cuộc "xem mặt cô dâu" ồn ào, phản  cảm và đầy lăng mạ bị phanh phui. Trong đó, không chỉ xem người, xem mặt cô dâu, nhiều  kẻ môi giới, người  tìm vợ, không ít trường hợp đích thị là những con bệnh lại tự cho mình quyền sắm vai trò bác sĩ, khám luôn cả… sức khoẻ sinh sản của cô dâu tương lai. Hôn nhân đang bị chọn lựa như một món hàng. Phẩm giá đang bị cân lên, đặt xuống, ngã giá và xúc phạm. Tự trọng của dân tộc cũng đang tổn thương trầm trọng, đóng một vết nhơ lên xã hội  và thời đại.

Chỉ chừng đó thôi cũng đủ để phải có biện pháp ngăn chặn, dẹp bỏ vấn nạn hôn nhân khác quốc tịch thông qua môi giới. Tất nhiên, không thể có luật nghiêm cấm kết hôn với người nước ngoài. Cũng chẳng ai phản đối điều đó, nếu thật sự nó xuất phát từ tự nguyện, trên cơ sở sự hiểu biết, đồng cảm và  nhiều điều bình thường tốt đẹp khác.

Nhưng luật hoàn toàn có quyền cấm các hoạt động môi giới hôn nhân, bởi đa phần, hệ lụy của nó chỉ  là bi kịch. Mặt khác, môi giới hôn nhân không thể xem là giải pháp cho một vấn đề xã hội. Nó chỉ là cơ hội làm giàu trên phẩm giá con người của một nhóm người, đồng thời trực tiếp bào mòn, khoét sâu những giá trị đẹp đẽ về mặt xã hội trong những cuộc phối ngẫu hợp lẽ tự nhiên.

Muộn, nhưng không phải là quá muộn. Nghiêm cấm hoạt động môi giới hôn nhân, tin chắc sẽ giảm đi rất nhiều những bi kịch bắt nguồn từ những đám cưới "tự nguyện" mà cô dâu, chú rể đọc cái tên nhau thôi cũng còn không rõ, chưa nói chi chuyện âu yếm, yêu thương hay "chung tay xây hạnh phúc".

Kim chi là món ăn phổ biến, sản vật thân thuộc xứ Hàn có sức hấp dẫn đậm chất văn hoá với người xứ khác. Nhưng đó là sản phẩm xứ lạnh, quá cay đối với người Việt sinh ra ở miền nhiệt đới. Hôn nhân Việt-Hàn qua môi giới chắc  cũng không khác gì món kim chi, đã cay nhưng lại còn bị hỏng vì được muối bởi  một bàn tay Việt chưa thành thạo văn hoá, truyền thống, tập quán và nhiều thứ khác ở xứ người. Với hôn nhân, người phụ nữ Việt Nam vẫn thuỷ chung "đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam", sẵn sàng đổi những lo toan, vất vả, chịu đựng để mưu cầu hạnh phúc.

Hôn nhân môi giới sang xứ người, họ gặp cảnh ngược lại: từ bỏ tất cả tuổi trẻ, khát khao, hạnh phúc của một thời thiều nữ chỉ để  nhận về khổ đau, tủi nhục, cay đắng và thậm chí là cả mạng sống của mình. Món kim chi  muối hỏng chỉ còn lại duy nhất  một vị cay xé lưỡi

Nguyễn Hồng Lam
.
.
.