Cay đắng mù sa
Ông ta đã trút hơi thở cuối cùng tại Bệnh viện Inova Fairfax thuộc TP Falls Church, tiểu bang Virginia (Mỹ) ngày 22/1 năm nay với những nỗi cay đắng của một chiến binh vì lầm đường nên cả đời nhọc mình mà chẳng nên công cán gì.
Ngô Quang Trưởng sinh ngày 13/12/1929 hoặc 1930 tại cù lao Giao Thanh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre trong một gia đình có của ăn của để, gần gụi với chính quyền thực dân. Học xong trung học ở Mỹ Tho, Ngô Quang Trưởng đã gia nhập Khóa 4 Trường Sĩ quan trù bị Thủ Đức (có nguồn tư liệu lại nói rằng, khóa học của Ngô Quan Trưởng là Khóa 7) và ra trường vào tháng 6/1954 với quân hàm thiếu úy.
Trong số 1.148 tân sĩ quan của Khóa 4, Ngô Quang Trưởng được xếp thứ 162 và được đưa về làm đại đội trưởng một đại đội trong Tiểu đoàn 5 của lực lượng nhảy dù, tiểu đoàn từng bị bại trận thảm hại trên chiến trường Điện Biên Phủ.
Vốn có bản năng lính chiến khá dồi dào, lại mù quáng tin theo những tín điều đã được nhồi nhét trong lực lượng võ binh do ngoại bang nuôi dưỡng, Ngô Quang Trưởng đã khá tận tâm trong việc thực thi các nhiệm vụ quân sự lắm khi mâu thuẫn của mình, giữa những năm tháng mà ở miền Nam liên tục biến động chính trị bởi lợi quyền cá nhân.
Dường như Ngô Quang Trưởng không quan tâm lắm tới việc ông ta đang phục vụ ai mà chỉ nhất nhất tuân theo những chỉ lệnh của thượng cấp mà "chinh Đông chinh Tây":
"Tôi chỉ là quân nhân và tôi nhận lệnh từ Tổng tư lệnh" - trong một môi trường quân phiệt mà viên sĩ quan nào cũng nghĩ mình là Napoléon như trong quân đội Sài Gòn, không nhiều viên tướng công khai tuyên bố và làm theo đúng tinh thần như câu nói này của Ngô Quang Trưởng.
Ông ta xa lạ với những trăn trở thế sự và chân lý, và bởi vậy, đã có những năm tháng công vụ thuận buồm xuôi gió theo kiểu ai thịnh thì phù. Sau vụ dẹp lực lượng Bình Xuyên năm 1955, Ngô Quang Trưởng được thăng lên cấp trung úy. Tới ngày 1/1/1961, Ngô Quang Trưởng được chính quyền Sài Gòn thăng lên cấp đại úy cũng như nhiều viên sĩ quan đồng cấp còn trụ lại được cho tới khi đó.
Năm 1964, Ngô Quang Trưởng được đưa lên cấp thiếu tá. Đến cuối năm 1965, Trung tá Ngô Quang Trưởng được đưa vào chức Tham mưu trưởng Sư đoàn dù. Tháng 5/1966, miền Trung đã bị cuốn vào những cơn lốc chính sự điên đảo, khiến những kẻ ngồi trong Dinh Độc lập cực kỳ bối rối.
Các biện pháp thay binh đổi tướng tức tốc như trong vòng ba tháng thay liên tục 6 viên Tư lệnh Vùng I đã không mang lại kết quả mong muốn. Cực chẳng đã, Ngô Quang Trưởng, khi đó đang là Tư lệnh phó lực lượng nhảy dù, dưới quyền chỉ huy của Tướng Cao Văn Viên và Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, đã được cử đi đem 5 tiểu đoàn dù và thủy quân lục chiến ra vùng I để "tái lập trật tự".
Nhờ chiến tích này mà Ngô Quang Trưởng được thăng chức đại tá. Tiếp đó, khi Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận, Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh và một số sĩ quan cao cấp của Vùng I bị đưa ra hội đồng kỷ luật, Ngô Quang Trưởng đã được đưa ra Huế thế chân.
Màn ra mắt cố đô của tân Chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng trên cương vị thủ lĩnh bộ binh Vùng I đã diễn ra khá hài hước: Vốn tiếc nuối sắc phục lính dù, Ngô Quang Trưởng đã định nhảy dù xuống nhiệm sở mới ở Huế nhưng rủi thay, lại rơi xuống sông Hương.
Thuộc cấp phải lái một thuyền máy tới vớt viên sư trưởng mới đang bị ướt lướt thướt như chuột lội lên rồi cưỡi xe jeep vào Thành nội nhậm chức, làm trò cười cho thiên hạ.
Sau Tết Mậu Thân 1968, Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống của chế độ Việt Nam Cộng hòa đã lập danh sách thăng cấp tướng cho một số thuộc hạ và Ngô Quang Trưởng được nhận quân hàm thiếu tướng vào mùa thu năm 1968…
Ngô Quang Trưởng đã được coi như một viên tướng chiến trường vào loại khác biệt nhất trong quân đội Sài Gòn, vốn rất phổ biến hiện tượng áp phe trong đội ngũ sĩ quan cao cấp.
Gương mặt lạnh lùng, khô khan, rất ít biểu lộ cảm xúc, tác phong cứng nhắc theo đúng những gì ghi trong điều lệnh, Ngô Quang Trưởng không từ bất cứ việc gì mà ông ta cho là thích hợp với lệnh trên. Khi ra một mệnh lệnh gì đó cho thuộc cấp, Ngô Quang Trưởng cũng thường đích thân tới tận nơi kiểm tra thực tế xem mệnh lệnh của mình được thực hiện thế nào.
Ngô Quang Trưởng rất hay lấy các cố vấn Mỹ làm "khuôn vàng thước ngọc". Thông thường, các viên sĩ quan trong quân đội Sài Gòn không đánh giá cao các ý kiến chỉ đạo của cố vấn Mỹ quen tính "ông kễnh" vì cho rằng những đồng minh tới từ bên kia đại dương không am hiểu tình hình thực tế ở chiến trường Việt Nam.
Khi đi cùng với các cố vấn Mỹ, các sĩ quan trong quân đội Sài Gòn thường chỉ thích lợi dụng tình thế bằng cách mỗi khi cần gọi phi cơ hay pháo binh yểm trợ thì được đáp ứng nhanh hơn, nhất là khi thua trận cần máy bay để tải thương.
--PageBreak--Ngô Quang Trưởng lại cho rằng, cố vấn Mỹ mặc dù có thể ít kinh nghiệm thực tế hơn các sĩ quan quân đội Sài Gòn nhưng lại được đào tạo bài bản nên chắc là biết được nhiều điều bổ ích trong nghệ thuật chiến tranh. Sự sùng tín mang nặng màu sắc vọng ngoại của Ngô Quang Trưởng lắm khi bộc lộ ở những góc độ tức cười.
Một sĩ quan quân nhu thuộc cấp của Ngô Quang Trưởng khi ông ta còn là đại tá vừa được thăng lên thiếu tướng ra miền Trung làm Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh ở Huế đã kể lại một câu chuyện nội dung như sau: Một chiều, Chánh văn phòng Tư lệnh Sư đoàn 1 gọi điện gấp cho viên sĩ quan quân nhu yêu cầu cho ngay một thợ may lên trình diện Thiếu tướng Ngô Quang Trưởng.
|
|
|
Cuộc di tản hỗn loạn của chính quyền Sài Gòn màu xuân năm 1975. |
Anh này biết ý, cho đúng Hạ sĩ B là người thợ mà Ngô Quang Trưởng vẫn thích lên. Khi về, anh hạ sĩ này báo cáo lại thì mới biết, có một đô đốc hải quân Mỹ đến thăm Ngô Quang Trưởng trong một áo jacket quân sự. Ngô Quang Trưởng nhìn áo thấy thích quá nên cũng muốn diện một bộ như thế nhưng áo phải được may bằng vải áo trận màu xanh olive của bộ binh quân đội Sài Gòn.
Viên sĩ quan quân nhu hiểu ý sếp nên đã chỉ thị kho xuất vải nilon nguyên cây để may cho Ngô Quang Trưởng cái áo jacket như ý ông ta và bảo lấy tấm pano màu cam (biểu tín hiệu dùng để đánh dấu bãi đáp cho máy bay trực thăng, có hai màu, màu cam và đỏ hường) để làm miếng lót bên trong cho đúng với màu vải lót cái jacket của viên đô đốc Mỹ.
Nhận được áo, Ngô Quang Trưởng vô cùng thích thú và đi đâu cũng diện, mặc dù đó không thể là quân phục của một viên tướng quân đội Sài Gòn. Mê tín cố vấn quan thầy đến như thế có lẽ là "xưa nay hiếm" ngay cả trong quân đội Sài Gòn!
Và có lẽ các cố vấn Mỹ cũng thích viên tướng ngoan ngoãn này nên thường là đánh giá cao Sư đoàn 1 Bộ binh trong thời gian Ngô Quang Trưởng làm Tư lệnh Sư đoàn là "Sư đoàn thiện chiến nhất của quân lực Việt Nam Cộng hòa"(?!).
Thậm chí tạp chí Time hay Newsweek gì đó của Mỹ trong một số ra đầu năm 1975 còn ghi tên Ngô Quang Trưởng vào danh sách 52 nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn tại châu Á trong tương lai(?!). Thật nực cười!
Đầu những năm 70 của thế kỷ trước, Ngô Quang Trưởng rời chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh để vào nhận chức Tư lệnh Quân đoàn 4 kiêm Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật. Chính khi đó, Ngô Quang Trưởng đã được đưa lên cấp trung tướng.
Trong năm 1972 đỏ lửa, Ngô Quang Trưởng đã là con bài nặng ký của Nguyễn Văn Thiệu để gây nên những trận chiến đẫm máu ở Thành cổ Quảng Trị. Mùa xuân năm 1975, Ngô Quang Trưởng, lúc đó đang là Tư lệnh Vùng 1 chiến thuật, đã bị sử dụng như một bung xung trong những nỗ lực vãn hồi tình hình đầy tuyệt vọng của chính quyền Sài Gòn trước các đợt tấn công như vũ bão của Quân giải phóng.
Ngô Quang Trưởng đã phải xoay như chong chóng trước mệnh lệnh bất nhất tới từ Dinh Độc lập và cuối cùng, đã phải bỏ của chạy lấy người lên một con tàu Mỹ để di tản thoát thân. Trong một hồi ức mang nặng tính "thanh nga thanh minh" với nhan đề "Vì sao tôi bỏ Quân đoàn 1?", Ngô Quang Trưởng đổ hết mọi việc cay đắng thất bại trong mùa xuân năm 1975 cho Nguyễn Văn Thiệu.
Ông ta cho rằng, cái lẩm cẩm nhất của những kẻ chóp bu trong chính quyền Sài Gòn lúc ấy là không cho các thuộc cấp biết ý định của mình nên họ không thể tìm ra cách hành xử có lý.
Chính Ngô Quang Trưởng đã trở thành trò cười trong mắt của thiên hạ khi hôm trước vừa hùng hồn tuyên bố tử thủ Huế hay Đà Nẵng, thì hôm sau lại phải tức tốc di tản theo lệnh từ Sài Gòn như một tên hèn nhát cuối cùng.
Và vì thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa tham mưu và các cấp, lại không có kế hoạch rút quân đàng hoàng nên mọi sự đã trở nên hỗn loạn. Cuối cùng, Ngô Quang Trưởng đã phải đào tẩu khỏi Tổ quốc trên một con tàu Mỹ.
Thấm thía nỗi nhục của một bại tướng sống lưu vong, Ngô Quang Trưởng không hay xuất hiện trước đám đông để nói về quá khứ và ít khi trở lại với những nhận xét về lực lượng đã từng khiến ông ta thua cuộc. Ông ta từ chối tiếp xúc với bất cứ ai, từ chối trả lời các cuộc phỏng vấn của báo chí về những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn.
Những cuốn sách mà Ngô Quang Trưởng đã viết ở Mỹ theo yêu cầu của Trung tâm Lịch sử quân sự Mỹ, thường thiên về những phân tích thuần tuý quân sự thấm đẫm những nỗi niềm cay đắng mù sa

