Đường lên Đồng Nai Thượng
Ngày 31/5/1927 người Pháp mở con đường rải đá rộng 4m từ Dầu Giây lên Đà Lạt. Và ngày 28/4/2015, Bộ GTVT đã làm lễ thông xe dự án từ Dầu Giây lên Bảo Lộc thuộc công trình khôi phục, cải tạo quốc lộ 20, rộng 4 làn xe với kinh phí 4.466 tỷ đồng.
Ngày còn tuổi đôi mươi, nghe nói lên xứ Thượng là trong lòng nôn nao khó tả. Lúc ấy, tôi cứ tưởng tượng con người cuộc sống ở vùng cao có điều gì đó khác với miền xuôi, rồi nhớ bài học thuộc lòng rất tượng hình thời tiểu học: “Tôi còn nhớ những ngày lên xứ Thượng/ Theo bạn bè lên rẫy giữ nai heo/ Trên chòi cao trơ trọi giữa lưng đèo/ Ôi! phong cảnh sao mà hoang vắng quá/ mái chòi lợp vài ba tấm rạ/ Sàn chòi bằng một vỉ tre thưa/ Ngồi dựa lưng ngủ thiếp giữa trưa hè/ Để đêm thức giữ heo về phá lúa”.
Sau này về Tây Nguyên ở với bà con Kờ Ho, Mạ, Chu Ru… tôi vẫn nghĩ mình là người được học hành có thể chỉ cho họ cái này, góp ý cho họ điều kia. Nhưng thực sự mình đã lầm, bà con đã dạy cho tôi nhiều thứ: từ cách đi rừng, bắt cá, hái rau… Có người còn dạy cho tôi cả chụp và xử lý hình ảnh nữa.
![]() |
Đồng Nai Thượng bây giờ là thành phố du lịch, hàng ngày khách tây, ta đến đi nhộn nhịp. Một số già làng trưởng bản nói tiếng tây như gió, mở laptop khởi động rào rào, chiều chiều tự lái xe con hú hí nhau đi nhậu. Nhìn thấy đã sợ. Bà con dân tộc gốc Tây Nguyên thực sự đổi đời là nhờ cà phê, nhờ chính sách chuyển đổi cây trồng của nhà nước, nhưng không phải người dân tộc nào cũng thế, có người còn nghèo, thậm chí rất nghèo, vì họ không chịu thay đổi cách làm ăn, thay đổi nếp nghĩ của mình.
Ở Nam Bộ muốn lên được xứ Thượng này phải đi đường 20. Từ ngày quốc lộ này được nâng cấp, dân địa phương gọi là “Con đường bô xit” vì ngày đêm loại xe kéo rơ mooc dài đến 15m, chở 30 tấn mỗi chuyến, chạy hà rầm xuống Đồng Nai “Hạ”, bóp còi inh ỏi.
Chứng tích một thời
Miền Nam xứ mình là vùng đất hoang, mới được khai phá vài trăm năm. Vì vậy ở những giao lộ, tiền nhân thường chừa lại cây lớn để ngồi nghỉ mệt như người Tây Nguyên luôn để lại cây Kờ Nia giữa rẫy. Ở Nha Trang có ngã ba Cây dầu đôi, Bình Dương có Thủ Dầu Một, ở Tây Ninh có hồ Dầu Tiếng và Đồng Nai có chùa Cây Dầu, ngã ba Dầu Giây. Cây dầu ở miền Đông Nam Bộ trở thành nỗi nhớ một thời.
Tại ngã ba Dầu Giây, điểm xuất phát lên Đồng Nai Thượng bây giờ không còn cây dầu nữa, chỉ có rừng cao su và phố xá. Nơi đây đã và đang hình thành cứ điểm giao thông nối các thành phố lớn miền Đông Nam Bộ bằng đường cao tốc.
Con đường dẫn đến vương quốc trà BLao này, tôi đã đi nhiều lần nhưng vẫn thấy lạ. Vì bây giờ mặt đường thênh thang rộng đến bốn làn xe, được tráng bê tông nhựa nóng phẳng lì. Chỉ mới năm ngoái thôi, chủ và khách từ xứ Hạ lên xứ Thượng áo quần bê bết bụi đường, to mồm chửi đổng, thì nay ngồi trong xe nghe tiếng rào rào khi lướt qua những khu rừng cao su, giả tỵ.
Điểm đến đầu tiên, chúng tôi ghé quán cơm chay mang tên Hội Ngộ, cách ngã ba Dầu Giây vài trăm mét. Thực ra cũng vì tính tò mò, vì dân cư ở tuyến này đa số là đồng bào Công Giáo miền Bắc di cư sau hiệp định Genève 1954. Tuy cơm chay với món đạm thực vật, bất kỳ tôn giáo nào cũng có thể sử dụng nhưng nó mang điều gì đó gắn bó với Phật giáo.
![]() |
| Đầu đèo Bảo Lộc. |
Tôi hỏi cô chủ quán tên là Trần Thị Như Thủy 40 tuổi, được cô cho biết: “Em là dân đạo Chúa, nhưng lấy chồng theo Phật giáo. Mấy năm trước tụi em có tiệm sửa xe máy, trong lúc ế ẩm, có một người đến sửa xe rồi gợi ý tụi em mở quán cơm chay, với thiện tâm chỉ mong muốn con người tránh được sát sinh, mang cái tâm nhẹ nhàng! Vài năm gần đây lượng khách miền Tây đi Đà Lạt thường ghé đến. Vào tiệm cơm chay của em có Phật Tổ, có điều răn dạy nên họ bớt xô bồ văng tục, cũng vui anh ạ! Bây giờ văn hóa vào tiệm xuống cấp lắm, khách hàng hò hét, chửi bậy điếc tai, em cũng ngán”.
Tôi hỏi anh Nghĩa chồng cô Thủy: “Nghe vợ em nói, em sinh ở ngay ngã ba Dầu Giây, vậy em có biết vì sao ngã ba này mang tên Dầu Giây?”. Nghĩa vui vẻ: “Tuần nào em cũng bị hỏi câu này! Nhất là mấy ông mang máy ảnh. Nghe ba em nói, ngày xưa ở ngã ba có cây dầu to lắm, nhiều dây leo lên sống bám nên mới gọi thế! Nhưng cũng có người nói: Năm 1955 người Bắc di cư vào mang theo giống trầu dây, họ trồng ngay ngã ba nên gọi là Dầu Giây. Theo em nghĩ ba em nói đúng hơn, vì cả ba lẫn má em được sinh ra tại đây mà!”.
Rời ngã ba, chúng tôi chạy về hướng Đà Lạt. Dọc theo con đường này có khá nhiều nhà thờ lớn, sân rộng, tháp chuông cao ngất, biểu thị cho cuộc sống phồn thịnh của các xứ đạo.
Chuyện cây cầu La Ngà
La Ngà - tên một con sông chảy về miền Đông Nam Bộ. Sông La Ngà phát nguyên từ cao nguyên Di Linh thuộc tỉnh Lâm Đồng, chảy qua Bình Thuận, Đồng Nai rồi đổ vào hồ Trị An với chiều dài trên 272 km. Tại phía Đông Bắc hồ Trị An nằm trên tuyến đường 20 trước đây đã có cây cầu mang cùng tên với dòng sông. Từ ngày vận chuyển quặng bauxit đã trở nên quá tải nên Bộ Giao thông cho xây cầu mới. Bây giờ chiếc cầu mới nằm song song với cầu cũ dài 330m, rộng 12m, được thiết kế bằng bê tông cốt thép vĩnh cửu với 10 nhịp dầm, đường dẫn hai bên cầu dài hơn 1km, tải trọng theo tiêu chuẩn HL93. Công trình được khởi công vào tháng 12/2013 và hoàn thành 5/2/2015 với tổng vốn đầu tư trên 170 tỉ đồng.
Chúng tôi ghé quán nước đầu cầu La Ngà, bên cạnh nhà máy đường, gặp ông chủ quán tên là Bảy Thái nói giọng Nam “giả cầy”. Tôi chào hỏi làm quen: “Chắc anh Hai là người Bắc vô Nam lâu rồi, nên nghe giọng xăng pha nhớt!”. Ông chủ quán cười ha hả: “Chú mày đoán hơi bị hay! Tớ từ Thái Bình vào thẳng La Ngà từ năm 1980, đã 35 năm chứ ít gì. Ngày rời quê tớ còn trẻ khỏe”. “Thế anh Hai còn nhớ bài thơ Thái Bình có cái cầu Bo, có nhà máy cháo có lò đúc môi không!”.
Ông Bảy vỗ tay: Tớ là dân cầu Bo chính hiệu đây, lúc cầu Bo bị bom Mỹ đánh sập, tớ đang ở đấy. Nhắc tới chuyện cầu Bo sập mới nhớ đến cầu La Ngà. Mẹ! cầu La Ngà cũ, vào năm 2013 xác định tải trọng chịu lực là 23 tấn mà hàng ngày vẫn phải oằn mình “cõng” nhiều loại phương tiện quá tải lưu thông.
![]() |
| Nuôi cá bè tại cầu La Ngà. |
Điều đáng nói, xe chở bauxit, cao lanh chạy hướng từ Lâm Đồng về nối đuôi nhau, mỗi chiếc có trọng tải trên 30 tấn, khiến cầu La Ngà rung lắc như muốn sập. Mỗi lần có xe trọng tải nặng chạy qua là nhà cửa, hàng quán đều tưng tưng, khói bụi cuốn theo mù mịt. Những chiếc xe này phải chở nặng lắm mới rung lên như vậy, nhiều lúc cả đêm có ngủ được đâu. Hình như cái cầu này nó muốn nhão ra hết rồi, dân địa phương qua lại cũng thấy ớn. Cảnh sát giao thông tuýt còi hoài, nghe nói đã lập biên bản 16 trường hợp xe quá thiết kế, 5 trường hợp quá tải cầu đường. Nhưng cho đến nay, vẫn chưa có trường hợp nào buộc hạ tải tại chỗ.
Bà con ở đây thấy xe bauxit xuống là chửi như giặc! Chưa hết đâu, ở diễn đàn Quốc hội, ông “Nghị” Dương Trung Quốc đại biểu Đồng Nai, phản pháo hơi bị hay về chiếc cầu tội nghiệp này. Cử tri Đồng Nai quý ông “Nghị” Quốc, giá mà Quốc hội mình có vài chục đại biểu như ông Nghị này mình đỡ lắm à nha! Cũng nhờ la to đồng loạt nên mới có cầu mới để đi, đêm ngủ ngon ơ! Bây giờ dân ở đây gọi cầu mới là “Chiếc cầu bauxit”. Chuyện khai thác mỏ ở Tân Rai ra sao mình chưa biết, nhưng cũng nhờ nó, mình có cây cầu, con đường đẹp cũng vui rồi”. Ông Bảy Thái ngồi rung đùi hát í e bài gì đó trong cổ họng như thời trai trẻ.
Ở các nước phát triển người ta chỉ nhìn cây cầu với lưu lượng xe và hàng hóa là có thể biết ngay kinh tế vùng miền. Còn đối với nền văn minh người ta chỉ cần xem rác rến hay màu nước cống rãnh ở thành phố để đoán biết trình độ dân trí. Người viết bài này không phải là nhà môi trường học cũng không phải kỹ sư cầu đường nhưng nhìn các đường thoát nước của đường của dân đổ về suối. Vài chục năm sau vùng này lên phố, nước suối sẽ đổi màu, không biết lúc ấy có ai đánh giá trình độ quan trí hay dân trí ngày xưa không!
Đèo Chuối, cửa khẩu của Nam Tây Nguyên
Con đèo đầu tiên trước khi lên cao nguyên cây cối xanh rì và chuối rừng mọc lơ thơ trên đồi là đèo Chuối. Về địa hình, đèo Chuối dài 4km là bước chuyển tiếp khí hậu với độ cao 350m hai bên là rừng hoang khí hậu khá êm dịu do còn rừng nguyên sinh. Tuyến đèo này mọi thứ đều êm ả dịu dàng. Nếu dành chút thời gian, du khách có thể cảm nhận một màu xanh mướt từ những rừng cây dập dìu cành lá. Thỉnh thoảng chen lẫn những bụi cỏ lơ thơ là những bông hoa dại trắng, vàng nhỏ xinh, li ti như những hạt cườm ai đó rắc bên đường.
Tuy nhiên đây là đoạn đường khá nguy hiểm không phải vì độ dốc, chiều cao mà do nhiều khúc cua liên tiếp, vì vậy tai nạn giao thông thường xảy ra. Do vị trí địa lý hiểm trở dễ tiến và lui lại xa khu dân cư, nên trong chiến tranh đèo Chuối trở thành cứ điểm tập kích chớp nhoáng.
Do đèo Chuối có nhiều hang động gần đó, nên trong kháng chiến chống Mỹ, nơi đây là tổng kho của cửa khẩu Đèo Chuối, một khu dự trữ quan trọng trên con đường huyết mạch từ Sài Gòn đi Đà Lạt do cách mạng lập ra để thu thuế và nhận tiếp tế từ các nơi gửi về phục vụ kháng chiến. Theo quyển Lịch sử đấu tranh cách mạng của huyện Đạ Huoai (1945 - 2005) do Đảng bộ huyện biên soạn (trang 63, 64). Trong 3 năm duy trì cửa khẩu Đèo Chuối, từ tháng 6 năm 1965 đến năm 1968 chúng ta đã thu, cất giữ và chuyển cho Khu VI một lượng lớn hàng hóa và nhu yếu phẩm, tại đây còn tiếp nhận lượng tiền mặt được quy đổi là 65 kg vàng.
![]() |
| Đèo Chuối. |
Theo Tướng Phạm Xuân Thệ cho biết: Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, một bộ phận FULRO ở Nam Lâm Đồng tập kết khu vực đèo chuối. Bọn chúng lúc ẩn lúc hiện để chặn xe cướp tài sản của dân. Vì vậy sư đoàn 304 điều trung đoàn 66 của ông chuyển về đường 20 để tiêu diệt FULRO đèo Chuối.
Sau tết năm nay, ông KPreỏh dân tộc Kờ Ho điện thoại mời tôi vào nhà ăn nhậu. Khi có rượu ngà ngà, ông kể: “Cuối tháng 5 năm 1975 ông Thệ là Trung đoàn phó, ông ta cho lính đi vận động, truy quét, tiêu diệt FULRO ở vùng này. Ban ngày, ổng cho bộ đội cùng với dân lên rẫy trồng tỉa, thu hoạch lúa bắp. Ban đêm tổ chức tuần tra, canh gác bảo vệ buôn làng. Tết 1976, bộ đội và bà con cùng nhau ăn tết theo từng hộ. Tết đó được chuẩn bị đầy đủ lắm à nha! Có bánh chưng, thịt heo, giò, dưa hành. Mỗi gia đình dân tộc Kờ Ho đều có 3 chiến sỹ đến cùng ăn, ở, sinh hoạt và chuẩn bị Tết với không khí đầm ấm vui vẻ. Kết quả “trận chiến Tết” ấm tình quân dân đã làm cho lực lượng FULRO bị cảm hóa, bớt hung hăng đến khi tan rã”.
Chúng tôi dừng xe ở đèo Chuối tại cây số 81, nơi bắt đầu mang tiểu vùng khí hậu cao nguyên. Gọi là đèo Chuối nhưng chỉ có vài chục cây chuối rừng khẳng khiu xơ xác đứng chơ vơ trên triền đồi. Tôi hỏi một người chăn bò được ông cho biết: “Đây là đèo chuối rừng, chúng là thủy tổ chuối nhà nhưng thân và búp ăn giòn và thơm hơn chuối nhà. Ông nên ăn cho biết!”.
Chúng tôi chưa kịp trả lời, ông ta bước thoăn thoắt lên đồi chừng 5 phút mang xuống một thân chuối bằng bắp tay dài 20cm bảo chúng tôi ăn thử. Tôi tách vỏ ra nhai chiêm nghiệm lời nói của ông. Quả thực thân chuối rừng giòn thơm mát lạnh và có vị ngọt, chỉ sau vài phút cảm thấy người khoan khoái lạ thường. Tôi không biết sự phấn khích đến bất ngờ này vì tâm lý ở rừng hay vì hợp chất của chuối.
Ông chăn bò mắt mở thao láo theo dõi gương mặt chúng tôi dò hỏi: “Ông thấy sao, dễ ăn không? Tui nói thiệt mà. Ngày trước đi rừng bị lạc, loại cây này có thể cứu mình cả tuần đấy. Chính vì có vị ngọt từ thân đến búp nên người ta đốn về làm gỏi để bán hoặc cho cá ăn. Ông biết không! đây là món khoái khẩu của cá, không có loại thảo mộc nào có thể qua mặt chuối rừng và kết quả con đèo này tên chuối nhưng đâu còn chuối nữa. Chuyến đi này các ông được ăn thân chuối được nghe chuyện đèo chuối. Vậy ông có thuốc lá thơm cho điếu vì công tui chặt chuối cho ông ăn”. Ông chăn bò ngửa mặt lên trời cười sằng sặc.
Đường đèo bao giờ cũng đẹp, luôn nhìn thấy rừng cây sương khói hữu tình nhưng bên cạnh sự thơ mộng ấy là chết chóc, chết vì tai nạn, chết vì bom đạn chiến tranh hoặc chết vì nhiều lý do khác. Người ta nói người chết có linh hồn, đối với người thành phố, họ có thể không tin chuyện vong linh, còn đối với dân cầu đường đào bới trên các nẻo đường, họ quá quen chuyện vô hình ấy. Chuyện “đất có thổ công, sông có hà bá” là chuyện có thật. Trước khi động thổ… cúng, trong quá trình thi công bị trở ngại… cúng, hoàn thành công trình… cúng.
Đầu năm 2015, một công ty thi công nâng cấp đường ở đầu đèo BLao. Cứ mỗi lần xe đứng máy, các anh em dò hỏi người già địa phương có ai chết ở đây không, được họ cho biết chỗ này trong chiến tranh có 3 người chết, chỗ xe tắt máy có 5 người. Có điều rất lạ sau khi anh em mua nhang khói lạy tạ mọi việc “êm ru”.
Vài năm trước lúc thi công cầu Đại Lào, thợ khoan chân trụ đầy kinh nghiệm, nhưng khoan liên tục 2 ngày vẫn không đến mục tiêu, đến khi nhang đèn cúng lạy mọi việc tốt hẳn. Cánh chủ thầu và chủ khoan nói với tôi: “Tụi tui làm nghề này gặp hoài, vong linh người xưa thiêng lắm à! Lỗi là lúc anh em lo chạy theo tiến độ nên quên. Cũng là chuyện nhỏ, mình đi mua hoa quả bánh trái cúng bái xin xỏ người âm là xong ấy mà!”.
Ông chủ nói một cách tự tin, rồi ông lầm bầm: “Nhưng nếu so sánh việc đi cúng người chết và người sống thì cúng vong linh ít tiền và nhẹ cái đầu mình hơn. Còn người sống phải cúng nhiều đợt đến khi ra về vẫn còn lo, sợ gặp lúc trái gió trở trời họ thay đổi kế hoạch”.
* * *
Đường 20, đoạn từ Dầu Giây đến khu Bauxit Tân Rai dài 123 km hiện nay rất đẹp. Sau lễ thông đường ngày 28/4/2015, tôi được đi song hành với ông cán bộ già về hưu. Ông nhỏ nhẹ nói: “Mình sống ở mặt tiền quốc lộ này đã trên 30 năm. Mấy năm qua, xe chạy trước nhà mình gặp ổ gà, ổ voi kêu ầm ầm không ngủ được. Nay đường rộng đẹp thênh thang quá mừng cho địa phương, mình chết cũng cảm thấy vui. Nhưng cứ chiều tối các loại công ten nơ, kéo rờ móc chở bô xít - cao lanh chạy xuống đèo, mình cũng cảm thấy lo. Không biết ông nhà nước tính toán ra sao mà lại mang sản phẩm thô đi bán. Sau này con cháu mình còn gì để ăn nữa hả trời!”.




