Tò he, trong giấc mơ tôi…
Tôi vẫn luôn tin rằng thứ đồ chơi kì diệu ấy sinh ra là để làm mê hoặc những tâm hồn trẻ dại như chính tôi hàng chục năm về trước. Tò he, cái tên dẫu có bắt phải quên đi ngàn lần thì cả ngàn lần tâm trí vẫn không thể dứt bỏ. Nó là một phần của kí ức. Mà đã là kí ức thì bao giờ cũng đẹp, cũng lung linh và bao giờ cũng một đi không trở lại…
Chiếc rương gỗ nhỏ xù xì, vài bó tăm dài vót trắng phau, dăm gói bột gạo đủ màu ngũ sắc và một cụ già loay hoay, lọt thỏm giữa đống ngổn ngang ấy tay không lúc nào ngừng vê vê, xoắn xoắn cẩn thận như người thợ kim hoàn đang dát đồ trang sức. Tôi cứ mãi giữ lấy cuốn phim ngắn tươi đẹp ấy để rồi không biết bao nhiều lần đem ra ngắm nghía, tua đi, tua lại trong suốt những năm tháng sau này. Những con tò he, với tôi, lúc nào cũng đầy sức hút. Gọi là “con” bởi vì dường như ngay từ lúc thành hình, thành khối từ tay người thợ khéo làm, chúng đã là một sinh linh hẳn hoi, có hồn, có phách.
Những năm 90 trở về trước, khi lũ trẻ vẫn còn quá nhiều niềm vui hồn hậu tuổi thơ thì tò he trở thành một thứ đồ chơi đầy ao ước. Đôi khi còn hơn cả một thứ đồ chơi, chúng trở thành tri kỉ của tuổi thơ con trẻ. Tôi còn nhớ rõ hồi lên năm, lên bảy, cứ mỗi bận Trung thu thể nào bà cũng mang về một con tò he óng ánh, xanh xanh, đỏ đỏ thấp thoáng trong đôi quang gánh lúc lắc sau buổi chợ chiều. Nhưng không chỉ vào mỗi lần lễ tết, cứ độ dăm bữa, nửa tháng, tôi lại làm nũng để được chiều chuộng. Biết tôi mê tò he, bà thường cố dành dụm những đồng bạc ít ỏi từ mớ rau, con cá để mang về cho tôi những Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới ngộ nghĩnh bằng bột gạo. Tôi không nhớ rõ mình đã cầm trên tay bao nhiêu que tò he như thế trong hơn chục năm gắn chặt tuổi thơ của mình ở làng quê.
“Tò he cụ bán mấy đồng
Con mua một chiếc cho chồng con chơi
Chồng con đánh hỏng thì thôi
Con mua chiếc khác con chơi một mình”
Phải cố gắng lắm tôi mới tìm được cụ trong một buổi trưa hè oi ả. Chỗ ngồi của cụ nép mình vào một góc vỉa hè nham nhở gạch đá nhưng rợp bóng cây mát mẻ. Nó cũng khiêm tốn như chính cái nghề đã theo cụ suốt nửa thế kỉ qua. Giữa đường phố bụi bặm, những que tò he tươi roi rói của cụ như một thứ hoa cỏ quý, nhẹ nhàng kéo lại chút thanh bình từ cái ồn ã, xô bồ thường nhật. Tôi đã ngắm nhìn chăm chú từng ngón tay khẽ khàng, khéo léo vê vê, nặn nặn trên mẩu bột gạo ấy chẳng rời mắt. Trong giờ phút ấy, tâm trí tôi trôi tuột về những ngày thơ dại hàng chục năm trước khi hãy còn là một cậu bé tóc cháy khét vì bêu nắng đã rong ruổi theo gánh tò he của người nghệ nhân đi cùng khắp làng trên, xóm dưới. Ngày ấy, tò he vừa là đồ chơi, vừa là món quà ăn vặt. Nhưng ai nỡ lòng nào cho vào miệng những con tò he dễ thương vô cùng ấy. Tò he không giống như kẹo kéo, thứ phải ăn, phải nhai ngấu nghiến mới thấy hết được cái ngon, cái khoái. Tò he nên chỉ để ngắm, để chơi. Cũng vì thế mà trong mắt lũ trẻ, tò he là thứ đồ kiêu kì, mong manh, mãi là một nỗi thèm thuồng, không thể mạnh tay nghịch ngợm để thỏa lòng hiếu kì.
![]() |
Gặp cụ, tôi đã không chỉ phải lang thang trên những đường phố nóng hập, cháy khét mùi xăng xe mà gần như đã phải lặn ngụp biết bao lâu trong kí ức xa lắc lơ để một lần được ngược về những ngày chưa biết âu sầu. Khuôn mặt phúc hậu như tiên ông trong truyện cổ, tóc trắng phất phơ, vầng trán cao, ngang dọc những nếp nhăn của thời gian cũ kĩ, cụ nheo mắt nhìn tôi trìu mến, thi thoảng mỉm cười rồi lại tẩn mẩn vê từng chút bột quanh thanh tre nhỏ đã được vót thẳng tăm tắp. Tôi cứ đứng trân trân giữa lúc đôi bàn tay nhăn nheo của cụ thoăn thoắt nặn ra đủ thứ hình hài, cây lá, chim muông mà mới trước đó chỉ là những đống bột vô hồn. Nếu có một điều gì trên đời này làm ta xúc động thì đó hẳn phải là lúc này: khi bất chợt gặp lại những ngày cũ kĩ, những thời gian đáng sống nhất mà mỗi ngày đi qua ta lại đánh mất đi một chút. Tôi không hỏi tên, tuổi của cụ và cũng chẳng muốn nhớ về những điều đó. Vì những người nghệ sĩ thì làm gì có tuổi? Còn như cụ nói, chỉ cần gọi cụ là “ông nặn tò he” là đủ rồi, một thứ danh xưng giản dị đến nao lòng. Bao nhiêu năm qua, những con người vô danh ấy đang cần mẫn làm một thứ công việc đầy ý nghĩa song chẳng được mấy ai biết đến: công việc lưu giữ thời gian.
Nghề nặn tò he, ngay từ ban đầu, chưa bao giờ là một cách làm giàu. Dăm con tò he bán được thực chẳng bõ cái công rong ruổi khắp phiên chợ quê, trên đường phố hay trong những hội lễ, đám đình. Chẳng phải thế mà khi cuộc sống ngày càng cho người ta thêm nhiều cách kiếm tiền mới, nghề nặn tò he cũng dần đi vào quá khứ. Chẳng còn mấy ai nặn tò he bằng đam mê đơn thuần nữa. Tò he, từ một thứ đồ thủ công tinh tế dần biến thành một thứ hàng hóa công nghiệp mất đi quá nhiều hồn phách xưa. Bây giờ, người ta nặn tò he “công nghiệp” hơn nhiều: dùng phẩm màu hóa chất, nung trong những lò lớn rồi có khi còn đóng gói, bán đại trà. Bây giờ, cái thú xem nghệ nhân nặn tò he dần trở nên xa xỉ. Nó trở thành đặc sản chỉ xuất hiện trong những dịp hội lớn, mỗi năm một hai lần. Không phải không còn ai nặn tò he mà bởi vì tò he đang dần bị những lực vô hình đẩy ra xa dần đời sống thường nhật. Thành ra, tò he giờ chỉ còn là vẻ đẹp của văn hóa người Việt trong cái cách mà người nước ngoài nhìn thấy. Còn với chính chúng ta, đôi khi, ta thực sự đã quên đi nó.
![]() |
“Tò he? Lớn rồi mà vẫn còn chơi mấy đồ ấy à?”, vài người đã thốt lên như thế khi tôi kể về mối tình với tò he của mình. Thì ra trong mắt chúng ta, những thứ “trẻ con” như thế đã bị đặt vào thế giới của hai chữ: lạc hậu. Đúng, ta chẳng bao giờ có thể mãi sống với những hoài ức, dù chúng đều đẹp đẽ vô ngần. Nhưng sống mà không có kí ức, không thể nhớ về ngày hôm qua thì lại là một điều đáng để đau đớn lắm! Đến bây giờ, nhắm mắt lại, tôi vẫn còn nhớ được mùi bột gạo thơm thơm của những que tò he mới nặn hay mùi chua chua, ngai ngái lúc chúng sắp quá hạn rồi nứt vỡ đi. Thường, mỗi con tò he chỉ thọ được vài ba ngày. Thành ra cái đẹp của tò he đã mong manh lại càng thêm yếu ớt hơn nữa. Đó là cái đẹp của sự hoài niệm, hồi ức ngày tháng cũ. Chỉ mạnh tay một chút là mọi thứ sẽ tan vỡ cả.
Nếu kỉ niệm là thứ rành mạch, có thể viết ra, kể ra thành hình, thành khối thì chưa chắc đã ám ảnh người ta đến thế. Cho nên lắm lúc, ta chỉ có thể mơ hồ nhớ lại từng quãng đứt đoạn của ngày trẻ dại để rồi ngơ ngẩn, tiếc nuối mà thôi. Tò he cũng như thế. Với nhiều người, nó là thứ di sản mai một của một nền văn hóa dân gian đang được cố níu giữ lại từng ngày. Thi thoảng, người ta lại tổ chức một lễ hội, cuộc thi, một năm đôi lần những người thợ nặn tò he lành nghề được vinh danh trên mặt báo. Cũng tốt thôi, nhưng với tôi tò he mãi là một mảnh kí ức tuổi thơ long lanh và hồn hậu. Nó không phải là thứ có thể đối xử bằng một sự bảo tồn vật chất, như những món đồ đã cấp báo trong sách đỏ văn hóa. Tò he sinh ra từ tinh túy linh hồn người nghệ sĩ thì cũng phải được lưu giữ ngay trong chính tâm hồn người thưởng thức. Trong tôi, những giấc mơ về tò he bao giờ cũng ùa về vẹn nguyên như buổi ban đầu ấy. Trong giấc mơ ấy, tôi dường như lại trông thấy chính mình: thằng bé tóc cháy khét màu nắng, hớn hở chạy theo gánh tò he lung linh cổ tích khắp những con đường thơm mùi rơm rạ thôn quê…


