Nơi ấy là KRông KPa

Thứ Bảy, 26/07/2014, 07:00

Anh Tô Nghĩa là nhà văn Quân đội cấp tỉnh, hiện làm việc tại cơ quan Cựu chiến binh Ninh Thuận. Nghĩa là bạn thân của tôi lúc còn làm việc tại Thuận Hải cũ, cùng trưởng thành sau năm 1975. Là dân Phan Rang chính hiệu, nhưng tuổi thơ của anh từng theo cha mẹ sinh sống từ Đơn Dương đến Di Linh. Nhân 30 tháng 4 năm nay, cả hai tìm đến nhau và cũng trên con ngựa sắt cũ mèm như thời trai trẻ, chúng tôi khởi hành từ Phan Rang lên đèo Sông Pha rồi ngang dọc trên Đơn Dương, một huyện lỵ còn in đậm chứng tích người xưa. 

Đơn Dương hôm nay là vùng chuyên canh cà chua và khoai tây lớn nhất nước, được xem là một huyện điển hình về xây dựng nông thôn mới tại một vùng quê đầy sương mù và nắng gió ở Nam Tây Nguyên.

Trở về ký ức

Đèo KRông KPa cao 980m, dài 18km là ranh giới của Ninh Thuận và Lâm Đồng nằm trên quốc lộ 27 nối liền duyên hải với Tây Nguyên. Đây là một trong những con đèo thơ mộng và nguy hiểm nhất nước. Thuật ngữ KRông theo tiếng Êđê là sông nước, KPa là tên riêng. Vậy KRông KPa có nghĩa là con sông Pa, nhưng được người địa phương chuyển thành Sông Pha cho dễ phát âm. Còn người Pháp lúc khảo sát khai thông tuyến đường này, nhìn cảnh đèo nên thơ giữa biển và rừng nên đặt tên là BelleVue mang nghĩa Việt là đèo Ngoạn Mục.

Theo tư liệu cũ. Sau khi Bác sĩ Alexandre Yersin phát hiện ra Đà Lạt năm 1893. Đến 1897, Người Pháp quyết định biến cao nguyên này trở thành khu nghỉ dưỡng cho quân đội viễn chinh và viên chức Pháp tại Đông Dương. Theo kế hoạch ấy, Toàn quyền Doumer đã cử đại uý Thouars chỉ huy một nhóm khảo sát thực địa mở tuyến đường từ Phan Rang lên Đà Lạt dài 122 km. Con đường được phác thảo theo hai lộ trình đường bộ và đường sắt răng cưa chạy gần nhau. Đến năm 1903 đường bộ được khai thông trước. Đây là một công trình gian khổ đầy hiểm nguy chực chờ, hằng ngày phải đối mặt với bệnh tật từ sơn lâm chướng khí, đến sự rình rập của thú dữ cũng như những toán thổ phỉ giết người, cướp của. Thời ấy, không ít cư dân bản địa và quân nhân Pháp thi công tuyến đường này đã nằm lại giữa rừng già không mộ chí.

Gần một thế kỷ trôi qua, đường đèo Sông Pha được nhiều lần sửa chữa nâng cấp qua các thời kỳ lịch sử. Hiện nay quốc lộ 27, từ Ninh Sơn đến ngã ba Phi Nom (Lâm Đồng) chưa phải là con đường tốt theo tiêu chí quốc lộ nhưng là đoạn đường lãng mạn đầy chất thơ của dốc đèo, núi rừng hùng vĩ. Nơi ấy khí hậu từ nóng chuyển sang lạnh chỉ cách nhau vài bước chân người.    

Điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi là tháp Pôklong Garai cách trung tâm Phan Rang 7km. Đây là một quần thể đền đài cổ của vương quốc Chăm được xây dựng vào cuối thế kỷ 13 nằm trên đồi cao lộng gió, mặt tiền hướng về phía biển. Tuy khu tháp đã ngả màu theo gió bụi thời gian và thăng trầm lịch sử nhưng quần thể này vẫn đứng hiên ngang giữa trời xanh mây trắng, mang chứng tích một thời huy hoàng của tiền nhân để lại. Tô Nghĩa đưa ngón tay vẽ một vòng tròn trên không cho biết “Hằng năm khách hành hương cả nước đến viếng tháp Pôklong Garai đông hơn rất nhiều lần so với bà con người Chăm bản địa, không ít người Kinh mang nhang đèn lễ vật quỳ lạy thì thầm trước cửa tháp. Trải qua gần cả ngàn năm, đền đài vẫn còn nguyên vẹn. Điều ấy chứng tỏ rằng trong lịch sử dựng nước và giữ nước, cộng đồng người Việt đã ra sức gìn giữ, xem di tích tiền nhân để lại là tài sản chung của dân tộc mình”.

Ven đường 27, đang vào mùa khô tháng 4 âm lịch, gió biển từ Phan Rang thổi vào cộng với lượng bốc hơi của vùng đất khô cằn gần chân núi tỏa lên, nóng muốn rám da mặt. Ở miền Nam có hai thành phố biển mang thời tiết đặc thù về nắng gió là Vũng Tàu và Phan Rang. Du khách mỗi lần đến đây, không ít người mang theo khăn trùm mặt như cư dân Hồi Giáo ở Trung Đông. Hơn chục năm trước tại Vũng Tàu, con đường Bacu rộng và đẹp nhất nhưng cũng khắc nghiệt nhất. Đại lộ mang tên thủ đô dầu khí của Azerbaijan này chạy dài gần đến biển, nên gió từ đại dương như con ngựa bất kham lồng lộng thổi vào quyện cùng đất cát phủ lên mặt phố, mặt người. Còn ở Phan Rang nắng nóng tháng tư hâm hấp, gió thổi xoáy chiều, làm cho gương mặt của những người khách lạ trở nên dớn dác đến mức bàng hoàng.

Tại Ninh Thuận, có lẽ vùng Ninh Sơn, Bác Ái là nơi có khí hậu khắc nghiệt nhất tỉnh. Vào mùa khô thời tiết cả hai huyện này nóng râm ran như Tây Ninh, Bình Phước. Tuy nhiên ở phía xa ven quốc lộ vẫn còn màu xanh thẫm từ những cánh đồng mía, thuốc lá hoặc vườn cây trái nhờ nguồn nước từ thủy điện Sông Pha đổ về tưới tiêu cho hàng ngàn hecta đất Ninh Thuận khô cằn.

Vào lúc 10 giờ sáng chúng tôi bắt đầu lên đèo. Từ bình độ 200 tại xã Lâm Sơn đến 500 rồi 700, qua 4 khúc cua tay áo. Đứng trên mặt bằng nhỏ nằm cheo leo ở giữa đèo có vài gian hàng chỏng chơ bán nước uống, trái cây mà dân “đi phượt” gọi là khu quán xá “trời ơi” nhìn xuống, đường đèo uốn lượn trông như con rắn khổng lồ bò vắt ngang qua sườn đồi, vách núi, ở phía xa là thành phố Phan Rang và cuối cùng là một màu xanh mênh mang của biển cả. Khi gần đến Eo Gió, Tô Nghĩa chỉ tay vào hóc núi thầm thì cho biết: “Đây là nơi tiểu vùng khí hậu, chỉ cách vài bước chân người, nhưng đánh dấu sự khác biệt giữa cái nóng của đồng bằng và mát lạnh của cao nguyên. Đây cũng là nơi hình thành phong cách của cư dân hai vùng cao thấp”. Trước mặt chúng tôi là một khoảnh đất trống chạy vòng lên theo hình bán nguyệt rộng khoảng 200m. Ở địa thế kỳ lạ này, khí hậu đột ngột thay đổi từ cái nóng hầm hập của Ninh Sơn được thay thế bằng những luồng gió mát lạnh thổi thông thốc từ một khe núi đá. Nếu ai chú ý sẽ nhận ra âm thanh ù ù một cách kỳ bí như máy điều hòa đang hoạt động ở tốc độ cao, vì vậy nên gọi là eo gió. Cũng chính từ bình độ này xuất hiện dần rừng thông và hoa dã quỳ. Tháng tư loài hoa hoang dã này chỉ còn những cành nhánh khô khốc màu nâu sậm thi thoảng còn sót một vài bông nở muộn vàng rực báo hiệu đây là giang sơn của vùng đất Bazan hùng vĩ.

Cầu D'Ran.

Đường sắt răng cưa đèo Sông Pha.

Xuất thân từ một họ tộc gốc gác tại Phan Rang. Tô Nghĩa lớn lên làm việc trong ngành Kiểm sát, rồi trở thành cán bộ có cấp hàm trong quân đội, đến cuối đời đảm nhiệm chức Trưởng ban Tuyên giáo cựu chiến binh tỉnh. Nghĩa gần như là nhân chứng của thời cuộc từ đôi mắt trong vắt của tuổi thơ đến tầm nhìn của một cán bộ Quân đội. Anh chậm rãi giải thích theo phong cách con nhà binh đã xông pha nhiều trận mạc: “Đèo Sông Pha có hai sự kiện mà không phải nơi nào cũng có: Một là, nhà máy Thủy điện Đa Nhim do chính phủ Nhật xây dựng từ năm 1962 với công suất 160MW. Hồ chứa nước trên độ cao gần 1.200m, được dẫn bằng 2 đường ống thủy lực để tua bin phát điện tại chân đèo. Ban đêm đèn bảo vệ rực lên cả một vệt dài giữa rừng như những hàng đèn cao áp chạy dọc đường băng ở phi trường. Chính hồ Đơn Dương là vật cứu tinh tưới tiêu cho đồng bằng ở phía tây Ninh Thuận. Hai là, bên cạnh đường bộ có đường xe lửa răng cưa lên Đà Lạt hoàn thành vào năm 1925, giờ đã hoang phế. Cầu D’Ran gắn liền với lịch sử ban sơ hình thành giữa Phan Rang-Đà Lạt. Chiếc cầu sắt hiền lành trải qua gần trăm mùa lá rụng là hình ảnh quê hương êm đềm của Đơn Dương đã đi vào tâm thức hai ba thế hệ. Những người đã từng sống trên đỉnh đèo KRông KPa xa xứ, gần như mỗi lần gặp nhau cũng đều mang hình ảnh cây cầu để bắt đầu câu chuyện gợi lại ký ức quê mình. Khoảng năm 1988-1989, cầu DRan được Liên hiệp Đường sắt VN tháo dỡ nghe đâu mang bán sắt phế liệu được 360 triệu đồng. Cũng lấy làm tiếc khi quá khứ một thời lại quy ra bằng tiền mặt!”. Anh chặc lưỡi nhớ lại tuổi thơ và hình bóng cây cầu chỉ còn trong kỷ niệm.

Xe ngựa ở vùng rau

Đã có khá nhiều người ở miền Tây Nam Bộ hỏi tôi: “Tây Nguyên nhiều núi, nhiều rừng đi bộ có mỏi giò (chân) không!”. Thực ra Tây Nguyên không chỉ có núi mà nơi ấy còn là những bình nguyên xanh đầy màu mỡ và văn hóa dân gian. Ở Nam Bộ đất đai chào đón người lạ bằng kênh rạch và hoa lục bình trôi lững lờ, còn ở Tây Nguyên đón khách bằng hoa dã quỳ và tiếng nhạc vi vu từ những rặng thông già. Đơn Dương một bình nguyên nhỏ bên cạnh núi Ya Bonnonh cao 1.652 m, và hồ thủy điện Đa Nhim, rộng 611,6 km² với dân số gần 100 ngàn người. Ngoài hai thị trấn DRan và Thạnh Mỹ còn có các xã: Lạc Xuân, Lạc Lâm, Quảng Lập, Đạ Ròn, Tu Tra, K'Đơn, P'Róh, Ka Đô. Đơn Dương không những nổi tiếng về những chiếc xe ngựa chở rau chạy lốc cốc ngoài đường mà còn dẫn đầu cả nước về số lượng cà chua thương phẩm và nông trường khoai tây OStar Farm ở xã Quảng Lập lớn nhất Việt Nam. Điều chúng tôi thích thú là gần như đi dọc huyện lỵ này nơi nào cũng thấy xe ngựa.

Ở miền Nam, chỉ có hai nơi còn xe ngựa nhiều nhất là khu 7 núi, An Giang dùng để chở người đi chợ, đi ruộng còn ở Đơn Dương xe ngựa dùng để chở rác, chở rau. Tiếng chân ngựa gõ lóc cóc trên đường làm cho mình cảm thấy một không gian yên bình, nơi ấy còn in đậm tình làng nghĩa xóm. Gần như trở thành thói quen, người trồng rau ở Đơn Dương không mặn mà với loại xe công nông chở rau cho nhà vườn. Các ông bà chủ tại đây, chỉ cần một cú điện thoại di động:  “Anh Hai, anh Bảy ơi! Chở giùm tôi 200 ký cà chua ra vựa Tư Sang nhé!”, thế là anh Hai, anh Bảy móc ngựa lên đường, có khi các ông chủ xà ích ra vườn chẳng thấy ai nhưng cà chua cứ lần lượt đưa về thị trấn. Khác với các loại xe có động cơ phải năn nỉ chờ đợi, đôi khi tính toán không đủ sở hụi, họ có một ngàn lý do từ chối. Còn đối với xe ngựa chỉ 50 ngàn đồng là bác tài có thể quất roi lên không trung vèo vèo với tiếng vó ngựa lóc cóc vừa huýt sáo theo một bản nhạc mang âm điệu Bôlêrô và cười vui như tết.

Ông Hai Đức là dân Phan Rang nhưng định cư ở DRan từ năm 1958. Ông là một trong 110 người xà ích chở rau kỳ cựu gần 60 năm trên đỉnh KRông KPa. Khi được hỏi chuyện vui buồn nghề xe ngựa, ông có thể  độc thoại hàng giờ liền với nét mặt rất sung mãn. Ông Hai Đức nhìn Tô Nghĩa, nhận ra người quen nói vanh vách: “Tôi biết chú này! Con ông V, trước ở  bến xe ngựa xóm cây me Phan Rang. Ba mày làm thợ may từ năm 1965 sau đó về Di Linh, cuối cùng về lại quê. Nghe nói chú mày đi bộ đội lâu lắm, lên được chức gì rồi!”. Tô Nghĩa gãi đầu nhận mình là con ông V nhưng không dám khai báo mình là sĩ quan Quân đội hàm thượng tá. Người có tuổi ở quê thường vẫn thế, họ sống theo tình người và nhân nghĩa xóm làng. Đối với họ chức quyền, giàu có chỉ là giai đoạn. Ở vùng quê, người có quyền chức nhưng sống không có tâm đều bị bà con khinh rẻ, họ xem luật nhân quả như bản án của trời. Quan quyền về hưu ở nông thôn mà không nhập gia được, coi chừng khi về với đất chẳng ai đến nhà. Ông Hai Đức bắt chúng tôi làm 1 lít rượu đế, độc thoại gần hai tiếng đồng hồ, ông cho biết: “Ở cái xứ Đơn Dương rộng như bàn tay này, với nghề đánh xe ngựa chở rau, chuyện nhì nhằng gì cũng biết hết. Ngày trước chở người, lúc không có khách hai ba thằng xà ích ngồi với nhau móc hết chuyện đời chuyện trời ra kể xem như mình thông thái: Từ chuyện lính địa phương quân bị mấy ông cách mạng bắn chết ở cầu DRan đến chuyện đấp mô gài lựu đạn… Sau này hòa bình mang xe ngựa chở người, chở phân, bây giờ qua nghề chở cà chua lên tới Thạnh Mỹ. Nghề xe ngựa chỉ đủ ăn không có ai giàu cả, tuy nhiên ít người bỏ nghề. Chú thấy đấy ở cái huyện nhỏ này mà có đến trên trăm ông bà xà ích. Thời buổi này, tui đố hai chú tìm đâu ra nơi nào còn nhiều như thế! Mà thiệt ra ở đây chỉ có xe ngựa mới luồn lách đến tận vườn rau, 50 ngàn cũng chạy, nợ mai mốt trả cũng chơi luôn! Bà con ở với nhau mấy mươi năm rồi mà, người ăn cơm, người ăn cháo. Có lần cả xe và chủ xe xuống hố, người ngựa không sao nhưng rau giập hết chủ vựa xót xa chặc lưỡi nhưng không bắt đền. Họ nói còn người là còn của hoặc của đi thay người. Quan hệ xóm làng như vậy có chết mình cũng chạy chú ơi!”

Tu một hớp rượu nghe cái réc, ông tiếp tục: “Làm nghề xe ngựa, vấn đề chính là giống ngựa phải mạnh khỏe, chịu khó. Nhiều năm ở Đơn Dương, tôi nhận ra vùng này không có ngựa đặc chủng mà phải phối giống lai tạp. Ngựa Phan Rang cao ráo mạnh khỏe nhưng rất trở chứng, ngựa của đồng bào Kho ở chân núi Langbian nhỏ con nhưng rất hiền lành chịu khó. Vì vậy chúng tôi đã phối giống trở thành loại ngựa ưng ý cho vùng rau này”. Ông Hai Đức giới thiệu nốt phần người và ngựa còn lại trước khi chúng tôi nói lời từ giã.

Ngôi nhà ký ức

Trong văn hóa không có sự hơn kém mà chỉ có sự khác biệt. Văn hóa bản địa tại Đơn Dương được thể hiện qua kiến trúc nhà cửa của nền văn minh Mã Đảo (người Raglai, Chu Ru) và Môn KhMer (KHo, Mạ). Chúng tôi tìm đến nhà ông Bon Khô Nha, 63 tuổi, người Chu Ru là Trưởng ban Công tác mặt trận để xem loại nhà của nền văn hóa Mã Đảo. Ông Nha có hai ngôi nhà gần nhau, một là theo phong tục nhà trệt, mái rộng người Chu Ru, một là căn nhà xây theo kiến trúc mới. Ông Nha cho biết ở Thạnh Mỹ có ngôi nhà sàn Kho 3 đời bên tay trái gần Công an huyện Đơn Dương, tới đó hỏi ai cũng biết.

Chủ nhân ngôi nhà sàn gần 100 tuổi ở MLọn, thị trấn Thạnh Mỹ là một phụ nữ KHo đứng tuổi, tên là Roda Nai Linh. Bà Linh rất vui vẻ mời chúng tôi món cháo trắng ăn với cá khô nướng giã ra thành bột, món ăn truyền thống buổi sáng của đồng bào KHo. Bà cho chúng tôi xem những tấm ảnh của đại gia đình bà và giới thiệu dòng họ Roda từ lịch sử ngôi nhà mang đậm ký ức gia tộc trong 3 thế hệ. Ngôi nhà gần trăm tuổi này có chiều dài 14m, ngang 6m. Điều đặc biệt, những cây cột gỗ không bị mối mọt càng ngày càng đen thẫm hơn mặc dù trải qua 70 mùa mưa nắng. Bên trong ngôi nhà được thiết kế đẳng cấp và trật tự của tộc người theo chế độ mẫu hệ.

Trong trang phục người phụ nữ Kho và cách nói chuyện đằm thắm của một trí thức miền núi, bà Linh kể: Ba mình là người Kho Di Linh thuộc họ Yayu là thầy giáo, nhưng sau khi tốt nghiệp trường quốc gia hành chánh về làm Phó Tỉnh trưởng Tuyên Đức chế độ cũ, mẹ mình họ Roda. Ngôi nhà được ba làm năm 1947, lúc còn là thầy giáo cho đến năm 1975 vẫn ở ngôi nhà này. Năm 2007, có người hỏi mua trị giá 300 triệu đồng bằng cách xây cho một ngôi nhà to có lầu tại chỗ cũ nhưng mình không đồng ý. Mình quyết giữ gìn gia sản dòng tộc vì lẽ là con út, sinh ra và lớn lên ở đây, chứng kiến hình ảnh trong ngôi nhà này từ lúc anh chị em lấy vợ lấy chồng, bố mẹ  mất, những đứa con của mình ra đời... Vì thế phải giữ lại để còn gốc tích ông bà. Dù ngôi nhà xây đẹp mới gì đi nữa cũng không thể nói lên chứng tích một thời. Vả lại không ai bán di sản của dòng tộc để lấy tiền”. 

Bà Roda Nai Linh, vui vẻ dẫn chúng tôi đi xung quanh các phòng và giới thiệu từng thứ gia sản quý giá: 5 cái chóe thuộc hàng phẩm cao nhất, trong đó có 1 chóe lớn (thuộc hàng vua), còn lại là chóe trung (hàng tướng) và chóe nhỏ (hàng quan). Bà cho biết thêm: Trong quan hệ giao tiếp của cộng đồng Kho, người ta nhìn vào đẳng cấp của khách để mang vật dụng ra chiêu đãi tương xứng. Ngoài chóe ra còn có 1 bộ chiêng 3 cái làm bằng đồng có thể đổi được 1 con voi, bà Linh tiếc rằng do dùng nhiều 1 cái đã bị nứt, âm thanh lỗi nhịp. Cầm chiếc khèn có tên là Rơkel, bà Linh cũng tiếc nuối vì thổi nó không còn phát ra tiếng kêu nữa do có con sâu chui vào làm hỏng. Trên bức tường gỗ còn nhiều thứ quý báu treo trang trọng như: bộ cung tên để săn thú rừng mà bà Linh tuyệt đối không cho ai chạm tay vào vì điều bí ẩn chưa được bà giải mã: “Không ai dám sờ vào cái cung này vì có tẩm thuốc dân tộc chỉ dùng cho thợ săn lành nghề, ai không phải chủ nhân của nó mà sờ vào sẽ bị nhức đầu!”. Kỷ vật thể hiện đẳng cấp của chủ nhân ngôi nhà xưa là cái xà gạc có khảm bạc mà gia tộc Roda đã lưu giữ mấy đời.

“Ngôi nhà từ đường là nơi đoàn tụ gia đình, dòng họ. Mỗi năm xong mùa lúa mới, tất cả dòng họ về ngôi nhà này làm lễ ăn mừng. Hằng năm cứ đến ngày giỗ bố mẹ, cả nhà tập trung về làm heo, gà, đánh chiêng, uống rượu cần”. Bà Roda Nai Linh nói như mơ hồ nhớ đến một thời đầy ký ức của ngôi nhà một thời còn ông bà bố mẹ.

 * * *

Rời Đơn Dương buổi sáng trời chuyển mưa. Mưa ở núi rừng nhìn rõ sức sống đâm chồi nảy lộc của thiên nhiên chứ không giống như bê tông hóa ở thành phố. Chúng tôi trở về Phan Rang, nhưng trong tâm thức vẫn còn những hình ảnh của người xưa. Trên đỉnh KRông KPa bây giờ nhà cao tầng tiếp tục mọc lên, phố xá nhộn nhịp. Ba nền văn hóa của Mã Đảo, Môn Khmer và người Kinh hòa quyện vào nhau. Người và đất gắn chặt với nhau đi lên trong chương trình xây dựng nông thôn mới. Khi qua khỏi Eo Gió chúng tôi rút ra được một chân lý “Chỉ có người phụ đất, chứ đất không bao giờ phụ người”. Bằng chứng ấy rất rõ ở tại vùng chuyên canh cà chua nhất nước này

Trần Đại - Tô Nghĩa
.
.
.