Nghề đi mót sái rừng: Ăn của rừng rưng rưng nước mắt

Thứ Ba, 15/10/2013, 13:39

Ở Nam Tây Nguyên, ngoài đi mót cà phê, mót chè… còn có thêm nghề mót của rừng. Đó là nghề đào gốc cây khô có hình dáng tưởng tượng, mang về bán cho khách vãng lai. Công việc vừa nặng nhọc vừa nguy hiểm, nhưng thu nhập lại quá bấp bênh. Hằng ngày, nhìn những nhà kinh doanh loại hàng đặc biệt này mặc quần áo đắt tiền, đi xe đời mới. Còn những người lao động trực tiếp với nước da tái nhợt, ốm yếu, sống trong những căn nhà tuềnh toàng, lầm lũi gò lưng đẩy xe thồ ra vào rừng sâu giữa hai mùa mưa nắng. Tôi không khỏi chạnh lòng.

Theo quốc lộ 20 lên cao nguyên Lâm Viên. Nếu ai chú ý sẽ nhìn thấy ven đường có những gốc cây khô dựng đứng với bộ rễ ngoằn ngoèo kỳ bí. Thỉnh thoảng khách viễn hành dừng lại trầm trồ cho rằng đây là kiệt tác của thiên nhiên. Nhưng không phải ai cũng biết, để có những bộ gốc rễ này là công sức bằng mồ hôi nước mắt, thậm chí cả máu của những người lao động kiếm ăn từ việc đi mót sái rừng.

Đèo Blao là sơn nguyên đá núi cuối cùng ở miệt Nam Tây Nguyên. Vì vậy mãi cho đến năm 1980 khu này vẫn còn là rừng nguyên sinh. Sau này trà, cà phê được giá, rừng hoang lùi dần nhường chỗ cho các loại cây công nghiệp. Chính vì thế tìm được gốc lõi cây khô nằm dưới lòng đất hàng vài chục năm gần như là một cuộc đánh bạc với niềm hy vọng.

Tiếp tôi tại căn nhà nhỏ đầy ắp gió lùa, nằm trên đỉnh đồi cà phê heo hút là ông Trần Đình Hồng và vợ Nguyễn Thị Hương Lan. Đây là cặp vợ chồng có thâm niên 10 năm chinh chiến rừng già, đã từng trèo lên hàng chục triền núi đá đào bới gốc cây khô. Thấy khách lạ đến thăm giữa không gian vắng bóng người, vợ chồng ông vui vẻ hẳn lên. Chi Lan mang nước trắng ra mời. Tôi cảm ơn, uống một hơi cạn ly nước đun sôi để nguội mà nghe đượm hồn sơn dã.

Nghề đi rừng thấy gì viết nấy của tôi đã nhiều năm len lỏi giữa chốn đại ngàn, ban đêm mắc võng ngủ dưới tán cây, uống nước sống ở khe suối, ăn chực cơm với dân cửu vạn, với bà con Khor, Mạ…, đã trở thành bình thường. Nhưng ngay tại căn nhà này, nhắp ly nước mang đậm mùi tro khói của đất trời, tự nhiên cảm thấy phận người giữa núi rừng hoang dã.

Ông Hồng cho biết: “Ở khu đầu đèo bây giờ có đến vài chục người chuyên đi tìm sái, nghề này gọi mót của rừng là đúng chóc, vì mình đi tìm những gốc cây đã mục chỉ còn lại phần lõi. Tuy nhiên, ai vào nghề mới nhận ra được thế nào là gian khổ. Ngày chúng tôi cưới nhau, cả hai không có công việc ổn định nên đẩy xe thồ vào rừng đốn củi khô về bán cho các nhà máy sản xuất chè đen. Công việc quá cực nhọc, nhưng ngày công cũng chỉ đến vài chục ngàn.

Có lần qua suối trong cơn khát, tôi ngồi thụp xuống vốc tay bụm nước uống, vô tình phát hiện một rễ cây sần sùi nằm vắt vẻo trên bờ. Nghĩ có thể bán được nên dùng cưa cắt ra, chở xuống nhà ông Tuấn ở đầu đèo bán được 400.000 đồng, hơn cả 5 ngày công đốn củi. Lần thứ hai gặp một gốc cây bị sạt lở nằm chênh vênh trên triền đồi, hai vợ chồng thồ về bán được hơn 1 triệu.

Vào thời điểm ấy, lao động chân tay kiếm được tiền triệu một ngày là giấc mơ lớn. Tôi còn nhớ, sau khi nhận được tiền vợ tôi ra chợ mua 1 con gà, đêm về cả nhà xì xụp bên tô cháo nóng thơm lừng và còn dư tiền mua được cho con vài bộ quần áo và mấy chục ký gạo giá rẻ. Anh biết đấy làm nghề đi mót sái rừng đố thằng nào dám mua 1 ký gạo 15 ngàn để ăn, nếu có chỉ là mấy cha ở công ty pháo Bình Đà. “Vì sao gọi là pháo Bình Đà?”- tôi hỏi. Ông Hồng ngửa mặt lên trời cười sằng sặc, đó là tiếng lóng dành cho mấy thằng nổ đó mà.

Nhấp thêm ly nước trắng đậm mùi tro khói anh tiếp tục. “Chính bữa ăn nhớ đời đó, hai vợ chồng quyết định bỏ nghề thồ củi, chuyển sang đào gốc cây khô. Thực tình đến nay chúng tôi không nhớ nổi đã đào bao nhiêu gốc, tổng cộng bao nhiêu tiền, nhưng đã tích cóp mua được 7 sào cà phê và xây được căn nhà tí tẹo trên đồi này”.

Ông Hồng vẫn tiếp tục câu chuyện của mình: “Nghề mót sái rừng gian khổ lắm, lúc đầu mò theo suối, nếu phát hiện gốc đẹp, ngâm mình đào hầm ếch, dùng cưa cắt đuôi, rồi dùng balang kéo lên bờ, sau đó thồ về hoặc mướn máy cày chở. Khi suối không còn gốc có thể tận thu, chúng tôi bám theo triền núi đá rồi vào tận rừng sâu. Anh không thể tưởng tượng được sự nguy hiểm đến mức nào đâu! Có lần tìm được cây đẹp trên núi Đại Bình, sau khi cắt xong đuôi chuột, nhóm chúng tôi bẩy lên, bất ngờ cây đổ ào xuống núi. Đứng trên cao nhìn xuống thấy gốc cây nhảy cóc như con Kăng gu ru, phía dưới là bà con dân tộc KHor đang hái chè. Họ nhìn thấy nó đang lao xuống nên thét ầm lên, bỏ chạy tán loạn như đàn khỉ, nhưng cũng may là không có ai bị đè chết. Anh biết gốc cây nặng cả tạ đầy rễ nhọn hoắt, nên khi bật gốc bất ngờ bị rễ phụ đập vào mặt, hoặc có khi thồ xuống núi bị đứt dây néo cả người và xe lao xuống vực thẳm không có ngày về hoặc bị trượt chân giữa triền núi đá bị máy cưa quật lại.

Ông Tái với tác phẩm gỗ lũa.

Chưa hết, còn có một nghề mót rừng khác là đi tìm sái đá quý, phải đi cả tuần hay cả tháng, cũng có người nằm luôn dưới lòng đất vì bị sụt hầm. Trong rừng sâu gặp được nhiều thứ mà mình không tưởng tượng được, như gặp các vong người là chuyện bình thường, vong hồn thường gặp chủ yếu là lính trận năm xưa không biết bên nào, trông họ tội lắm. Vì thế thằng nào đi rừng cũng đều mang nhang để cúng bái trước khi dựng trại, ngày nào đến bữa ăn cũng bê cơm lên khấn vái mời họ ăn trước mới được yên ổn.

Có một lần vào đêm đông giá lạnh cả nhóm không ngủ được nên mò dậy đốt lửa đứng vòng quanh sưởi ấm, bỗng nghe rột rẹt nhìn lại thấy một con gấu ngựa đen to hơn mình lù lù mò đến đứng chình ình bên cạnh. Vì quá sợ, nên cả nhóm đứng im như trời trồng không ai dám cử động hay nói câu gì. Loài gấu ngựa anh biết rồi, chúng nó rất hung dữ ăn tươi nuốt sống mình ngay, nhưng nó chỉ tấn công con người khi mình tấn công nó, còn nếu không nó cũng hiền khô à! Con gấu đứng chung với bọn này vài phút rồi đưa tay hất đống lửa tung tóe bỏ đi không ứ é một lời. Lúc ấy cả bọn mới biết mình còn sống ngã quỵ bên đống lửa, mặt xanh như đít nhái. Đây anh xem ngón tay tôi bị cưa máy cắt đứt nên đành phải bỏ nghề. Nhưng công bằng mà nói nghề này cũng hái ra tiền, cũng may vợ chồng dành dụm mua được 7 sào cà phê và 1 chiếc xe kéo này”. Ông Hồng nhìn vườn cà phê của mình cười sằng sặc.

Theo lời giới thiệu của ông Nhiên, Bí thư chi bộ thôn. Tôi tìm đến nhà ông Hoàng Minh Tái 85 tuổi, đó là một cụ già quắc thước râu tóc bạc phơ nhưng cơ thể cường tráng như người 60. Ông Tái có thú vui lặn lội trong các vườn cà phê, mép suối hoặc mua lại củi lũa với giá cao để tự mình đẽo gọt rồi dùng kỹ sảo thổi hồn vào tác phẩm. Trong nhà ông có một dãy núi bằng gỗ lũa dài đến 2m cao 1,5m bên trong núi có hang mà ông gọi là “Thiên nam đệ nhất động”. Đây là công trình do ông thiết kế từ A đến Z. Ông Minh Tái có cách nói chuyện sâu lắng, điềm đạm của một người già trải nghiệm. Hằng ngày ông lặng lẽ bên hòn non bộ, cây cảnh, hang động do chính ông làm ra, xem nó như là một người bạn ở tuổi xế chiều. Điều đáng nói, ông Tái là người già duy nhất ở vùng sơn cước này tự đi tìm sái rừng, tự đẽo gọt, sơn phết thành tác phẩm để nhìn đời và để nhìn ta.

Người làm nghề đi mót sái rừng nơi tôi đã đến hầu hết đều là những người dân nghèo khổ, chạy ăn từng bữa, không có nghề nghiệp rõ ràng, cũng không có cơ hội tiếp cận thị trường nên khi bán được gốc cây vài triệu đã là hạnh phúc. Tại những nơi mua bán loại hàng đặc biệt này, có khi chỉ trong chốc lát các doanh nhân sang tay nhau có thể kiếm được năm bảy triệu tiền lãi ngay trước mặt người trực tiếp đi rừng trên mặt còn lấm tấm mồ hôi.

Tôi nhớ vào năm 2009, một chú thợ rừng bán một gốc cây đẹp mang hình con rồng trong nhóm tứ linh với giá 12 triệu, vài tháng sau người chủ mới bán lại 30 triệu và cuối cùng là 50 triệu. Sự thua thiệt về giá cả ngay tại sân nhà là do kiến thức định phẩm, không chú ý thị trường. Nhưng nguyên nhân chính vẫn là cơm áo bức bách của gia đình, họ bán xới theo giá ngày công mà không cộng thêm chi phí đặc thù khác. Tôi không biết vài năm nữa, nếu họ không tích cóp tiền bạc để tạo dựng cuộc sống bền vững, trong khi sái rừng mỗi năm mỗi cạn kiệt, rồi họ sẽ làm gì và sẽ về đâu!

Trần Đại
.
.
.