Fừn nèn

Thứ Năm, 31/01/2013, 16:09

Hồi xưa (cũng chưa hẳn xưa lắm đâu, chỉ cách nay chừng bốn năm chục năm trở lại) vào những ngày gần Tết, ở quê tôi hầu như nhà nào cũng chuẩn bị củi đun. Củi lấy về chất chồng thành hàng đống. Trông khối nhiên liệu lù lù to đùng hiện lên như kho thóc, làm chủ nhà yên lòng. Khi đi ngang qua, cứ thấy ai, nhà nào có nhiều củi, dân làng lại mừng ro ro trên mặt.

Theo quan niệm dân gian, củi là giống cái, lửa là giống đực. Giống cái mới làm nên mùa xuân. Nếu trên đời này chỉ có mỗi giống đực, sẽ chả nên trò trống gì. Có lửa mà không có củi, tết đến nhà cũng vô nghĩa. Đời lạnh lẽo nhạt nhẽo vô cùng. Vì thế, thấy củi đặt đầy hiên nhà. Củi chất đầy trên gác. Nó báo hiệu cho mọi người biết tết đang đến rất gần, mùa xuân đang cận kề ngoài ô cửa. Củi là tín hiệu của đời sống gia đình ấm no hạnh phúc. Xóm làng yên vui.

Người Tày chúng tôi gọi fừn nèn là củi tết. Củi dùng để đun luộc bánh chưng, đồ xôi nếp chín cho vào cối giã làm bánh giày, vò bánh khảo, nặn thúc théc (bỏng gạo), đun quấy chè lam, chế biến đồ ăn, dọn cỗ bàn để tiếp đón khách quý gần xa. Nghĩa là muốn làm cái chi chi cũng phải cần đến củi. Củi đứng vào hàng thiết yếu số hai La Mã.

Chính vì vậy, khi đun nấu xong rồi, đủ cơ số thức ăn rồi, chủ nhà phải biết tiết kiệm củi. Cha tôi thường tận dụng triệt để sức nóng hơi ấm của lửa. Khi thấy những hòn than còn đo đỏ hồng hồng, cha tôi lùa múc từng gáo than cho vào lồng ấp (lò sưởi cá nhân) để hơ tay chống rét. Mà cái rét ở vùng rừng núi Cao Bằng quê tôi, được khách lạ đường xa cho là "đặc sản" thiên nhiên. Nó chỉ kém Mẫu Sơn (Lạng Sơn), Sa Pa (Lào Cai) bấy nhiêu thôi.

Ở Phủ Trùng nhà tôi cũng có tuyết đóng băng, nhưng không dày bằng. Cũng có mưa sương ầm ào, nhưng không mây mù dày đặc bằng. Cũng nhặp nhẹp ẩm ướt, nhưng không lâu dài lê thê bằng. Vì thế, củi để dùng đun chín thức ăn và dùng sưởi ấm cho người, có giá trị ngang nhau. Vào những ngày mưa phùn gió bấc, người ta dùng bếp lửa hong khô tã lót cho trẻ con, hong khô quần áo và chăn chiếu cho người lớn. Tuy vải vóc đi qua lửa khói, hôi hám chua ngoa, như người đàn bà bẳn tính, rất khó gần. Nhưng không thể không hong khô quần áo. Biết lấy gì mặc trong mùa đông này.   

Lại nhớ ngày xưa, cái thời giả cúng giả ké (bà cụ tổ) chưa có đèn dầu, đèn điện. Loài người chỉ dùng củi đốt lửa để lấy ánh sáng. Ánh sáng từ củi lửa bắt lên toàn thân con người, soi rõ nhận biết từng đồ vật, từng bộ phận. Lửa là một thứ ánh sáng như ma quái. Ánh sáng trèo lên tụt xuống, ập vào rồi tan ra. Ánh sáng đùa nghịch hiếu động như trẻ con mẫu giáo. Nhưng dù sao ánh sáng đã xua tan đi bóng tối. Ánh sáng còn bảo vệ sinh mạng con người và súc vật. Nhìn thấy ánh sáng ở đâu, những loài thú dữ không dám kéo đến gần. Cả gia đình người nào cũng trần như nhộng, nằm co quắp ôm nhau vòng trong vòng ngoài, vây quanh đống lửa.

Khi ấy, nào ai đã biết lửa là nguyên nhân, là khởi đầu của sự sống văn minh sau này. Ở thời hiện tại, loài người không còn dùng lửa để chiếu sáng nữa. Nhưng củi lửa vẫn rất cần thiết. Nhất là ở những nơi vùng sâu vùng xa. Củi là phương tiện duy nhất để bảo toàn và duy trì cuộc sống. Vì thế, người Việt xưa mới truyền lại rằng: "gạo châu củi quế" đều có cái lý của nó. Gạo quý như châu ngọc. Củi đắt ngang bằng quế chi. Còn người Tày Nùng chúng tôi gọi bố lửa với mẹ củi. Thử hỏi trên đời này còn gì thân thiết hơn củi lửa. 

Hai thứ gạo và củi gắn liền với sự sống, góp phần giữ gìn hơi thở của con người. Củi lửa gắn bó với sự sinh tồn từ bao lâu nay. Buộc người ta ai ai cũng phải dự trữ đề phòng, tính sao cho đủ. Củi lửa đun nấu quanh năm suốt tháng, cần thiết như thóc gạo. Không ai ăn sống ăn xít cá thịt rau củ mà trở thành người được. Đặc biệt, trong tháng Giêng ứ hự đầy thức ăn như thế này. Chỗ nào cùng đầy thịt mỡ. Nơi nào cũng đầy bánh trái.

Bởi "tháng giêng là tháng ăn chơi". Tháng vui vẻ tưng bừng trong các buổi lễ hội. Tháng vung hai chân hai tay đi lang thang làng trên xóm dưới. Tháng chân tay bận rộn tung còn. Tháng mồm miệng bận hát hát sli, hát lượn. Người người nhà nhà gác tất cày bừa, cuốc xẻng, dao rựa. Cho đồ vật chúng nó được nghỉ chơi. Dân cày không còn thời gian ngồi ngáp, xả ra hàng tấn buồn lòng cũ kỹ nhàu nát. Không còn chỗ cho kẻ xấu bụng ăn nói xỏ xiên mách lẻo tố cáo lăng nhăng lít nhít. Tháng Giêng là tháng thanh quang sạch sẽ. Tháng Giêng phải để cho nhân gian được hít thở nghỉ ngơi dưỡng sức. Tháng Giêng là tháng bỏ cả trăm công để chơi, bỏ cả ngàn việc để nhởi. Tháng động dục sản sinh muôn loài. Không phải ngày nào cũng ngay ngáy lo lắng việc củi đuốc bếp núc.

Thế là cả làng, cả xã đổ xô lên núi vào rừng hái cành chặt củi chuẩn bị đón tết. Tiếng dao nghe chí chát khua ròn như chiêng. Tiếng búa nghe rộn ràng nhộn nhịp như trống. Khắp nơi khắp chốn đâu đâu cũng vang lên tiếng dao tiếng búa, tiếng cây đổ xùm xòa, tiếng đá rơi lạch cạch. Khi nào các chị các em buồn buồn trong miệng, lại lên tiếng thách thức các cánh đàn anh đàn em hát lượn. Những chàng trai lún phún râu ria lông măng, sẵn sàng lên giọng đối đáp. Nào thì hát. Xá chi đời. Thế là họ vừa chặt cây đốn củi vừa hát.

Thấy chưa thỏa, có người lấy lá toong rản cuốn lại làm thành một chiếc loa. Bắc loa lên mà hát cho ngọt giọng. Tiếng hát bật ra có màu xanh thẫm. Tiếng hát bỗng nhớp nháp dính nhau bởi nhựa cây rò ra. Nhựa cây trắng đục như sữa. Sữa này là khởi sự nuôi dưỡng và hình thành sức mạnh con người. Vì thế tiếng hát của đám trai non gái tơ cứ thế mà dựng đứng mơn mởn lá cành. Tiếng hát của đám trai non gái tơ vang vọng khắp núi đồi. Nghe dễ thương như lũ gà con tập gáy. Tiếng hát chảy tràn xuống cánh đồng lòng hồ. Tiếng hát ấm nóng rạo rực đổ vào làng như nước suối trong. Làm cho các ông bà già đứng ngồi không yên. Các cụ bèn lê tấm thân còng ra bậu cửa, hai tay chống cằm ngồi lim dim nghe hát cho rõ.

Tiếng hát "nàng ơi chàng hỡi" vang vọng ngân dài ra mãi. Khiến da thịt người già cũng nổi gai ốc, hiện lên tím tái từng vùng từng đám như da gà. Nỗi nhớ nhung bắt đầu nóng lên. Nóng bừng bừng ở nơi gan ruột. Nỗi nhớ nhung hiện về trùng trùng điệp điệp. Nói thật nhé. Yêu nhau khổ cũng lắm. Mà giận nhau ghen nhau cũng nhiều.

Tiếng hát đưa các ông bà trở về một thời tuổi trẻ. Tuổi trẻ ngày hôm qua rủ nhau đi hết rồi. Tuổi trẻ rơi rơi giữa dòng thác bạc. Nghĩ mà tiếc. Tiếc cũng chả để làm gì nữa. Nhưng trong lòng lại miên man râm ran bởi những sợi râu cằm ria mép. Những sợi râu cọ mài lên đùi lên bụng. Cọ tới đâu sướng buồn tới đó. Già rồi, giờ nhớ lại vẫn thấy nó nhột. Nhột xong lại thèm. Chao ôi. Nỗi người mà sao khó tả.

Lễ hội trong ngày Tết của người Tày.

Vách núi truyền tiếng hát đi vang mãi, xa mãi như dây đàn trời. Dây đàn tuy mảnh mai nhưng không hề ngơi nghỉ, không hề đứt đoạn. Trời ơi! Những ngày lấy củi giáp tết sao chộn rộn, sao mà... Có lẽ nó còn vui hơn trong tết. Tết chỉ bận vui ở nơi chốn đông người. Nơi chốn đông người, vui là của chung tất cả. Muốn ôm hôn người mình yêu phải lựa, phải dò hỏi trông trước ngó sau. Mà cái trò yêu nhau rất cần nơi kín đáo. Vậy thì. Muốn tỏ tình yêu nhau, hãy lên núi mà yêu.  

Mọi người mọi nhà dừng ngay công việc, rủ nhau lên núi vào rừng lấy tết. Không. Hái tết. Phải nói như thế mới thấy đã. Phải hiểu như thế mới thấy sướng. Tết nhất từ hai tay mình mà ra. Tết nhất từ trong người mình mà đến. Có như thế tết mới ở lâu sống dai. Hết lớp người non này đến lớp người già khác, vẫn không hết tết.

Khi chiều về, mặt trời đi qua làng Hiếu Lễ nghiêng nghiêng như sắp sửa sập xuống. Con đường làng tôi gập ghềnh đá sỏi, bỗng nhập nhẹp tối om. Từng đoàn người gánh củi to như bồ thóc, kĩu kịt kìn kìn đi qua. Củi rùng rùng giẫm đạp lên bóng tối mà đi qua. Củi thơm tho vượt lên ngang mặt mà đi qua. Tiếng người ọt ẹt ới ới rúc rích vào tới đầu làng. Tiếng ngỗng đực lẹt bẹt cáo cạt chào anh gánh củi. Tiếng chân chó nhay nhay. Tiếng đuôi chó đập phì phẹt. Nó ngẩng đầu chào chị gánh củi. Tiếng gà đập cánh lấy đà bay vào cửa chuồng. Đến súc vật cũng biết tránh đường cho người gánh củi. Ánh lửa vàng lòa xòa lọt qua vách nứa. Lửa cũng biết đổ xuống lòng đường, lấy ánh sáng soi cho chân người gánh củi. Còn những ai giờ đang ở nhà, nhớ bắc nồi lên bếp, chuẩn bị bữa tối thật ngon lành, chờ người lấy củi về cùng dùng bữa tối.

Khi tới trước sân nhà mình, người tiều phu không chuyên hất thật mạnh gánh củi xuống đất. Làm như cả người mình theo đà quán tính mà gieo. Gánh củi nặng làm một tiếng: Bịch. Gọn ghẽ. Người vươn vai xả một hơi hì hà. Còn củi thì nằm dài ngoan ngoãn. Bây giờ, mới thật sự sung sướng. Nghe trong lòng nhì nhào man mát lên tận cổ. Mát từ trong ruột mát ra. Mát từ da mát vào. Những hạt mồ hôi to như hạt ngô, từ từ lăn xuống cằm. Một ngày mệt nhọc vừa được trút bỏ. Thật sung sướng.

Người Tày gọi fừn nèn là củi tết.

Hỡi những ai muốn tự làm cho mình được sung sướng, hãy lên núi lấy củi. Mà kể cũng lạ. Trên đời này không có sự sung sướng nào không trải qua đau nhức mệt nhọc. Sự mệt nhọc rã rời đổi lấy tinh thần lãng mạn. Ôi! Cái sự lãng mạn tuổi trẻ không thể tính được bằng tiền. Ai lại tính tiền cho tình cảm thăng hoa. Lên núi lấy củi cũng là một việc đăng sơn đi tìm thi tứ. Phải không? Hỡi các bậc tao nhân mặc khách.

Còn những ai trong nhà đã sẵn tiền bạc, họ cứ ung dung chắp tay sau lưng ra chợ Co Xàu, tha hồ mà chọn mua củi. Khỏi phải mất công mất sức bỏ cả ngày leo núi, lên rừng chặt hái. Từ sáng sớm tinh mơ, hàng củi đã bày là là từ hè phố Thang Cảng tới chân cầu Pò Riềng. Củi nối nhau như đường tàu hút mắt. Suốt từ đầu hôm đến cuối chợ, từng toán người mặc áo bông, chân đi hài thêu, láo nháo lố nhố đi lùng mua củi tết.

Trước nhà tôi một con đường mòn. Ngày nào cũng như ngày nào, mưa dầm cũng như nắng ráo. Từ tờ mờ sáng đã có những toán người từ bản Lũng Cao rì rầm gánh củi ra chợ bán. Tay họ cầm đèn pin quét qua quét lại. Chân họ phầm phập thi nhau thở vào đất. Người họ vừa đi vừa nghiêng đầu nhìn đường. Thậm chí có những hôm gà chưa gáy, tôi đã nghe tiếng ho lẫn tiếng chân người giục nhau hối hả. Không phải họ bước đi bình thường. Mà họ phải chạy gằn. Chân người chạy như chân hươu lắc qua lắc lại. Bàn chân to bè tõe ra năm ngón. Mỗi ngón chân to bằng củ ấu. Củ ấu chạy như ma dồn như quỷ đuổi. Trên vai mỗi người một gánh củi. Gánh nào gánh nấy nặng hơn cối đá. Mỗi bó củi to hơn thân người tôi lúc bấy giờ.

Không hiểu sao, họ lấy đâu ra mà lắm sức lực. Người ta nói lao động là vinh quang. Chẳng hiểu có đúng như thế không. Tại sao những người dân quê mùa của tôi chưa hề biết vinh quang là cái giống gì. Chỉ biết trên gáy họ mọc lên một khối u chai tấy, to bằng một cái chén tống lật úp. Trời ơi là trời! Lao động là vinh quang mà như vậy ư?! Giờ đây tôi đem thắc mắc này biết đi hỏi ai được nhỉ?  

Mới sớm ra, nhiều người đã lùng tìm mua củi nghiến. Nói đến hàng nghiến thì ai cũng ròa ròa thích thú. Bởi củi nghiến từ xưa rồi, nó luôn là của hiếm. Người ta phải tìm kiếm mãi trên núi cao rừng sâu. Những chỗ khó có chân người qua, may mới còn. Củi nghiến nó vừa bền vừa chắc, đun lại lâu tàn. Hơi củi nghiến nóng ran như nung, nhưng không làm rát mặt. Lửa củi nghiến xanh lè chứ không đỏ quành đỏ quạch. Củi nghiến là loài cây không thể dùng dao chặt. Người ta phải dùng búa Tày có vai mới bổ được.

Gỗ nghiến từng được người Pháp tặng cho một chữ: Thép. Gỗ mà như thép. Thép không bao giờ han gỉ. Không bao giờ mối mọt. Gỗ nghiến càng dùng càng càng bền. Mỗi miếng nghiếng nặng chừng hai đến ba kí, dày bằng mu bàn tay thợ ngõa. Miếng nào cũng to bản như phiến lá dong. Miếng vừa tuổi đời, đỏ tươi như tiết gà. Miếng quá lứa, thâm sì như gan trâu. Miếng còn non, lên màu vàng nâu như nghệ. Với anh củi nghiến, bất kể ở tuổi nào, khi đun cũng cần thận trọng. Vì khi người ta bổ, trên thân củi nghiến xù ra muôn vàn cơ sự xây xước, đâm lô nhô hàng trăm hàng ngàn cây xương dăm. Có thể nói một cách giản dị, nghiến là hàng dành cho giới sắp sửa quý tộc. Bởi nghiến đắt nhất trong những lô củi bày bán.

Người ta ưa dùng củi nghiến, còn có một lý do nữa. Gỗ nghiến có mùi thơm rất lạ và cực kì hấp dẫn. Chỉ nhìn củi cháy thôi mà ta đã mềm lòng. Lửa củi nghiến hôn nhau tới tấp như tình duyên trai gái. Đã bén lên là khó lòng dập tắt. Khói củi nghiến miên man lâng lâng như đang đưa mình bay lên. Lửa củi nghiến thổi ra những hạt lép bép. Những hạt sáng lung linh như hoa cà hoa cải. Chúng bay từng chùm xỏa ra tung tóe. Chúng lại cong cong thu về, rơi nhè nhẹ như pháo hoa. Khắp ba gian nhà ngói, chỗ nào cũng tỏa ra mùi củi nghiến. Mùi nó thơm ngỡ như ta đang trong vườn ổi giữa mùa.

Tiếp đến, phải kể anh mạy puôn. Loại này không phải bổ. Chỉ cần chặt khúc. Từng đoạn dài cỡ một mét, to bằng cổ tay. Cành nhỏ bằng chấn song cửa sổ. Vỏ củi mạy puôn nhờ nhờ trắng đục, loang lổ như da trăn gió, nhưng mịn màng. Người ta bó thành gánh. Mỗi bên to bằng chiếc thùng tôn gánh nước. Củi mạy puôn đặc ruột, chắc cây. Cành nào cành nấy nặng chịch. Nặng ngang xà beng búa tạ. Than mạy puôn lên màu nâu đỏ như mận chín, cũng lâu tàn. Ngọn lửa mạy puôn phù phù liếm quanh đít nồi, ôm trọn trôn chảo. Ngọn khói lên màu khá lạ. Màu đỏ tía. Cái màu mà ông Lý Bạch đã từng tả trong bài thơ "Vọng Lư Sơn bộc bố".

Thường người ta lấy mạy puôn rào vách nhà. Gác mái chuồng trâu, làm chuồng gà. Nhưng anh này hay bị mọt. Mọt ăn mạy puôn nhí nhoáy như khoan cắt. Muốn dùng nó lâu dài, người ta buộc phải mang xuống ao ngâm nửa năm tám tháng. Gỗ mạy puôn ngâm dìm trong bùn, khi vớt lên, nó đen như mun, bền chắc như sắt. 

Kế tiếp kể đến anh hàng củi tạp. Đã nói tạp là tạp nham tả pí lù. Nó có đủ loài đủ loại. Cành to cành nhỏ gồm các cỡ khác nhau. Cành còn sống sít. Cành nhăn nhở cười. Cành đã chín nục chín nạc. Khúc đáng tuổi ông nội. Khúc còn đi nhà trẻ. Củi đàn ông ôm chặt lấy củi đàn bà. Gánh củi tạp nhìn vui như đám rước. Chân tay củi tạp nhộn nhạo ngang phè như dân buôn lậu vùng biên. Màu củi tạp pha trộn tùng phèo, rậm rạp rối mắt. Hàng này rẻ tiền. Ai cũng có thể mua được vài gánh. Giá mỗi gánh chỉ bằng một phần tư củi mạy puôn, phần mười củi nghiến. Người gánh củi tạp lưng thẳng tưng, tung tăng đi như múa. Người ở phố rất khôn, họ ít đun củi tạp vì nó chóng tàn. Hơi củi tạp nhẹ hều như người đau tim thở ngắn. Gio củi tạp thô xốp như cát đồi. Vạn bất đắc dĩ người ta mới phải dùng củi tạp. 

Sau cùng, phải kể đến anh củi mạy công. Thứ củi chuyên làm nòm.  Củi chỉ có mỗi một nhiệm vụ, đưa ngọn lửa nhỏ nhập vào đống củi lớn. Đó là giống củi làm công tác giao liên tiếp vận. Nó biến căn bếp lạnh lùng hoang vắng, trở thành nguồn sản sinh năng lượng. Căn nhà bỗng chốc sôi lên sùng sục, cái ăn thức uống bưng lên đặt xuống rào rào. Trông gánh củi ẻo lả mà góp công sức kỳ diệu làm sao. 

Vậy nó là thứ gì? Người ta lấy củi mạy công từ trên vách núi chênh vênh. Vách núi có độ cao và gần như dựng đứng 90 độ. Chỉ cần ngước nhìn đã thấy ớn lạnh. Sống lưng như được làm bằng băng tuyết. Muốn tiếp cận trèo lên chặt lấy củi mang về, phải là những người dân bản địa. Vì họ quá quen đường lên lối xuống, thuộc như trong lòng bàn tay. Thậm chí có chỗ phải bắc thang dây mới trèo lên được. Đã không ít người trượt chân, làm hỏng cả cuộc đời mình.

Bi kịch này đã xảy với người làng tôi. Và thường với những đàn ông tuổi đời còn rất trẻ. Vì sao vậy? Vì họ muốn thử cảm giác mạnh. Họ muốn một lần đối mặt trước gã thiên nhiên khổng lồ, lầm lì và thâm hiểm. Đang lúc miệt mài mải mê chém chặt, anh ta đặt nhầm một bàn chân lên hòn đá xanh rêu. Lỡ làng chỉ một lần thế thôi. Sau một tiếng kêu răng rắc lạnh lùng, vậy là đi tong một đời người, đau lòng cả xóm núi.   

Loài mạy công mọc thành từng búi. Búi nọ liền búi kia làm thành từng dãy. Dãy mạy công bùng bùng mập mạp nối nhau như voi đàn nằm. Có người nói mạy công có họ xa với hàng tre trúc quân tử. Nhưng nó là phái nữ, mang âm tính. Trời đất sinh ra mạy công làm loài cây yểu điệu. Nó đã biết e thẹn từ khi mới nhí nhó nụ măng. Mạy công không gánh vác được những việc dành cho nam giới đực rựa. Nhưng mạy công là thứ cây có tình cảm, dễ mủi lòng xúc động. Nói bắt lửa chỉ có nó là nhanh nhất, trong đám củi đuốc. Kể cả khi mạy công còn tươi, bà con mới hái về. Lửa bắt vào lá kêu hù một nhát, nhậy như tưới xăng A92. Bởi vậy, giá một gánh củi mạy công không hề rẻ. Nhưng chỉ cần mua một gánh, đủ dùng được cả tháng. Một nắm củi nòm ba năm que, nhóm xong rồi dập tắt, dè sẻn cũng được một tuần.

Ngày xưa, người ta lo sắm tết không chỉ gạo thịt, hoa quả, vải vóc, quần áo. Củi đun cũng là một nhu cầu bức thiết. Thiếu củi chỉ còn nước chặt chân chặt tay cho vào bếp mà đun. Chứ không có nhiều cách làm chín thức ăn như thời bây giờ.

Ngày nay, bà con trong phố đun bằng bếp gas, bếp điện, bếp từ, bếp hồng ngoại. Người làng người bản đun bằng bếp trấu, bếp than tổ ong, có một số ít người biết dùng bếp bằng khí bi ô gas... Vừa sạch sẽ tiện lợi vừa tiết kiệm. Thời đại văn minh làm đổi đời những người dân quê tôi từng ngày.

Nay ngồi nhà mà nhớ lại những ngày chưa xa, vẫn thấy khói tết vờn bay như mây. Khói vừa bay vừa thơm. Thơm từ mùi người. Thơm từ mùi hoa trái chín. Thơm từ mùi từ cỏ cây. Thơm từ nước nguồn gió núi. Nhưng đặc biệt nhất, mùi thơm củi lửa. Cái mùi nuôi sự sống con người.

Dân quê tôi tuy vất vả trèo non lấy củi, nhưng tràn đầy tinh thần thượng võ. Nay người làng người xã không phải lên núi đốn củi nữa. Rừng tái sinh đang phủ xanh đất trống đồi trọc. Cây như người khoan khoan hít thở lộc trời.

Tết đang đến rồi. Ừ nhỉ. Tết sắp đến thật rồi. Nhìn mưa phùn bao phủ kín nhà kín phố. Nghe cái lạnh lần lần bò lên da thịt. Theo hơi mưa, tôi lại muốn ngược về chốn rừng xanh để được sưởi lửa. Để được nhí nhoáy vùi sắn nướng khoai. Để được ngồi vây quanh khu bếp, trò chuyện cùng những người dân làng. Những người dân làng có cả một kho chuyện. Còn khối buồn vui chưa san sẻ. Còn nhiều điều tò mò muốn biết. Từ chuyện con cà con kê đến chuyện ma chuyện quỷ học hành chữ nghĩa. Những câu chuyện không đầu không cuối chắp ghép vào nhau. Như cuộc đời này, người nối người vào nhau. Để giữ gìn nòi giống. Như căn bếp này, củi nối củi vào nhau. Để giữ gìn ngọn lửa

Nhà thơ Y Phương (CSTC Xuân 2013)
.
.
.