Chuyện kể từ… những chiếc cổng làng xưa
Cổng xưa chỉ còn trong ký ức
Trong số hơn 700 bức ảnh mà họa sĩ Quách Đông Phương triển lãm ở đình Kim Ngân, Hà Nội vừa qua, chỉ là một phần trong gia tài ảnh của anh. Nhưng có lẽ, con số cũng chỉ dừng lại ở đó, bởi cổng xưa đâu còn để chụp. Họa sĩ nói, anh muốn trưng bày ở đình Kim Ngân để cúng thành hoàng làng. Cho linh hồn của những cái cổng đã chỉ còn trong ký ức. Những chiếc cổng đã chết từ lâu, và lần đầu tiên được làm giỗ trong một không gian văn hóa riêng của Hà Nội xưa.
Cổng vốn tồn tại từ ngàn đời xưa trong những ngôi làng cổ Việt. Nhưng những chiếc cổng cổ trong bộ sưu tập lớn nhất về cổng làng của họa sĩ Quách Đông Phương chỉ có niên đại khoảng 200 năm trở lại đây. Có những chiếc cổng từ thời Lê, nhưng qua biến thiên của lịch sử, của mưa nắng, đã được người dân trùng tu, đắp lên đó bao dấu tích văn hóa cổ xưa.
Đối với nếp sinh hoạt của người dân xưa, cổng hình thành để định hình từng cái làng. Cổng, trong tiềm thức của người dân trở thành những quy ước về làng xưa. Cổng làng phân định cái ranh giới của làng với bên ngoài. Người sống sau cái cổng làng, người chết chôn phía ngoài cổng. Những ngôi làng truyền thống Việt Nam được bao quanh bởi lũy tre làng. Và chỉ có một lối đi vào theo trục đường cái quan, qua cổng làng, giếng đầu làng, bến nước sân đình, là vào đến làng.
Trong những chuyến đi thực tế đến các vùng miền của đồng bằng Bắc Bộ, họa sĩ Quách Đông Phương đã tận mắt nhìn thấy sự hủy diệt của văn hóa làng, mà đầu tiên là từ những chiếc cổng. Xưa, mỗi làng đều có hai cổng, cổng Đông và Cổng Đoài, còn gọi là cổng Tiền và cổng Hậu. Cổng Tiền là cổng chính dành cho người sống, đón người đi xa về, đỗ đạt làm quan, đón sự sống. Còn cổng Hậu, là lối đi dành cho người chết, những người phạm tội bị trừng phạt, cổng Hậu tống tiễn những gì là âm khí, không tốt đẹp ra khỏi ngôi làng.
Anh nói: "Người dân sống trong ngôi làng có luật của làng, có tôn ti trật tự. Chứ giờ đây, luật chả có. Có khi thằng chủ đề trúng đề về làng lại là oai. Cổng còn có quy ước về đạo đức. Bước qua cổng chính của làng, là tâm phải trong và sạch. Cái làng ngày xưa bé lắm, người ta quần cư trong một ngôi làng nhỏ, giờ người ta lấn ra ngoài cánh đồng, làng mở rộng biên độ, vì thế cổng cũng bị xóa bỏ".

Cổng xưa cũng được xây dựng một cách khéo léo, cẩn thận.
"Sinh nghề, tử nghiệp, xưa các cụ có nghề, ngoài nghề ra còn có sự dưỡng tâm để có thể tự hào với ông cụ tổ của nghề. Còn bây giờ, người ta làm vì tiền. Xưa người ta làm vì cái bên trong, còn bây giờ, đi từ bên ngoài, riêng điều đó đã quy định lối sống văn hóa, và tư duy của cộng đồng rồi. Đấy là nền tảng của một xã hội tử tế. Thẩm mỹ của các cụ ngày xưa tốt hơn vì người ta có cuộc sống gắn với thiên nhiên, với phong tục tập quán. Cổng làng đại diện cho một câu chuyện về những cái đã mất. Những cổng làng càng cổ thì chất Việt Nam rõ hơn. Những cổng xây đầu thế kỷ bắt đầu có ảnh hưởng của Trung Quốc và văn hóa Pháp. Cổng xưa giống cổng thành như Ô Quan Chưởng, trông nó giản dị hơn.
Hơn 20 năm qua các ngôi làng của các miền quê ở đồng bằng Bắc Bộ, Thái Bình, Nam Định và các làng ven đô Hà Nội, họa sĩ Quách Đông Phương đã chụp được gần 1.000 bức ảnh về cổng làng, cổng nhà, cổng ngõ. Trong đó, số lượng những cái cổng làng chỉ khiêm tốn trong bộ sưu tập của anh, khoảng 20 cái. Và cứ mải miết như thế, anh khám phá ra những điều vô giá trong từng chiếc cổng làng đã hằn vệt thời gian.
Số phận của những chiếc cổng làng
Cách đây vài năm nếu đi dọc triền đê từ Nghi Tàm lên cầu Thăng Long, qua làng Phú Thượng có rất nhiều cổng làng. Hay từ Kim Giang, qua Triều Khúc cũng vậy, nhưng giờ thì không còn.

Xưa mỗi làng có một nghề khác nhau. Nên cổng làng, vì thế cũng có kiến trúc khác nhau. Làng học vấn thì chữ trên cổng cũng thể hiện sự học hành, có trụ cổng là bút lông, hình cuốn sách. Làng Cự Đà buôn bán thì cổng làng lại có những câu nói khuyên con cháu phải có đức trong kinh doanh. Làng vàng bạc, lại có hoa văn ca ngợi những nghề truyền thống, không có cái cổng nào giống cái cổng nào. Làng giàu có, đỗ đạt thì xây cổng tam quan. Lối giữa dành cho những người có địa vị, có đỗ đạt đi, còn hai bên dành cho thường dân. Trước khi vào cổng làng, bao giờ cũng có hai chữ Hạ mã. Chứ không phải quan nghễu nghện đi vào làng.
Nhưng giờ, những cái cổng rất giống nhau. Nếu đi dọc Thường Tín, Quán Gánh, có rất nhiều cổng to đùng giống nhau, và đều được ghi tên là "Làng văn hóa". Làng nào không có chữ văn hóa thì vô văn hóa hay sao?
Trong cơn lốc của đô thị hóa, những chiếc cổng làng đã bị tháo dỡ, phá đi xây mới. Những cái cổng gần như chỉ còn trong ký ức. Nếu may mắn, cổng làng chưa kịp phá thì sự tồn tại của nó cũng trở nên lạc điệu giữa ngổn ngang những nhà mái ngói cao tầng, với đủ lối kiến trúc nửa tây nửa ta. Cổng, lúc đó sẽ không còn là cổng. Vẻ hoang phế, trầm mặc của nó trở nên lạc lõng. Bởi sự tồn tại của cổng làng không chỉ ở những giá trị vật chất, cái cổng được làm bằng gạch nung hay được xây một cách tài hoa khéo léo của những người thợ thủ công xưa. Cổng làng còn thể hiện một không gian kiến trúc, văn hóa của làng Việt cổ.
![]() |
| Triển lãm cổng làng xưa tại Đình Kim Ngân. |
Nói đâu xa, Hà Nội xưa là một cái làng lớn, có 5 cửa ô, giờ chỉ còn Ô Quan Chưởng nằm lạc nhịp bên cạnh những toà nhà cao chọc trời. Thế đâu còn giá trị của cổng làng. Cổng làng cũng chỉ đẹp, chỉ còn hồn vía khi đứng trong không gian sinh tồn của nó. Họa sĩ Quách Đông Phương ngậm ngùi: "Văn hóa giống như lời cụ Hữu Ngọc nói rất rộng lớn nhưng cũng rất mong manh. Cấu trúc một ngôi làng Bắc bộ trước đây bao giờ cũng có cổng chính ra đường lớn và một cổng đi ra đồng, vào từng làng thì lại có cổng ngõ, xóm, cổng các ngôi nhà riêng biệt... nhưng bây giờ thì rất nhiều cổng không còn nữa".
Có lần tôi về Phù Lưu, thăm quê hương của dịch giả Hoàng Thúy Toàn, người dân ở làng Phù Lưu đã phục dựng lại những cái cổng làng theo nguyên bản xưa, mà vì chiến tranh, vì mưa nắng đã hoang phế. Đó là câu chuyện của những ngôi làng giàu truyền thống được người dân ở đây ra sức giữ gìn, bảo vệ. Còn ở Cự Đà, ở Triều Khúc, những ngôi làng cổ ven đô, trong cơn lốc đô thị hóa, đất làng còn đắt hơn đất phố, cổng làng đã bị chính những người dân ở đây lạnh lùng dỡ bỏ.
Nhiều làng, con cháu làm ăn xa, giàu có, thành đạt, về góp công đức cho làng làm những cái cổng thật to, thật đồ sộ, với đủ các lối kiến trúc "ta không ra ta, tây chẳng ra tây". Cổng lại biểu hiện của một thứ văn hóa trọc phú của người nhà quê ra tỉnh sớm học đòi thói thị dân. Kệch cỡm và xa lạ với văn hóa vốn bình yên của làng. Xưa, quan về làng, phải "hạ mã", xuống ngựa ngay từ ngoài cổng làng bởi phép vua thua lệ làng. Nay, người nhiều tiền, sẵn sàng đạp đổ những cái cổng mang bao trầm tích văn hóa làng để cho ôtô vào tận nơi. Cổng làng được thay bằng những baries che chắn…
Họa sĩ Quách Đông Phương tâm sự: "Anh thường đi tắt cánh đồng, nhìn từ xa làng hiện ra rất rõ. Khi mà cái làng còn cây đa, đình làng, chùa làng, thì làng đó còn cổng. Còn nếu sang vùng Bắc Ninh, Phù Lãng, những ngôi làng mới, sẽ không còn nhiều làng cổ. Có lần tôi đi quay phim với truyền hình khi người ta đang phá cổng làng Dương Xá. Họ bảo phá đi không lại sập đến nơi rồi".
Cổng làng bị phá vỡ, nhưng đó đâu còn là câu chuyện của cổng làng. Cuộc sống văn minh hiện đại, kiến trúc của những ngôi làng bị phá vỡ, kèm theo đó, là sự phá vỡ của những không gian văn hóa cổ truyền.
Có lẽ, cổng làng chỉ còn được lưu giữ lại trong những câu thơ đẹp của thi sĩ Bàng Bá Lân: Sáng hồng lơ lửng mây son/ Mặt trời thức giấc, véo von chim chào/ Cổng làng rộng mở ồn ào/ Nông phu lững thững đi vào nắng mai/ Trưa hè bóng lặng nắng oi/ Mái gà cục cục tìm mồi dắt con/ Cổng làng vài chị gái non/ Dừng chân uể oải chờ cơn gió nồm/ Những khi gió lạnh mưa buồn/Cổng làng im ỉm bên đường lội trơn/ Nhưng khi trăng sáng chập chờn/ Kìa bao nhiêu bóng trên đường thướt tha/ Những khi về đến cây đa đầu làng/ Thì bao nhiêu cảnh mơ màng/ Hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre.
|
Họa sĩ Quách Đông Phương tốt nghiệp Trường ĐH Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội từ năm 1984, anh từng đoạt giải thưởng của Hội Mỹ thuật Việt Nam và Hà Nội, là hội viên của Hội Mỹ thuật Việt Nam. Anh được biết đến là một họa sĩ ấn tượng của những gam màu cá tính, những ý tưởng sâu sắc và cách thể hiện độc đáo. Anh là một trong những người đau đáu với sự mất - còn của bản sắc văn hóa Việt. |

