Chuyện cứu sống trái tim nằm ngoài lồng ngực
Chỉ một sơ sẩy nhỏ, mũi dao của vị bác sĩ có thể làm cho trái tim ấy ngừng đập. Khoảnh khắc cả bác sĩ và bệnh nhân đối mặt với sự sống còn, tính mạng con người được đặt lên trên hết. Vị bác sĩ dùng hết tâm sức, trí tuệ cứu bệnh nhân, như cứu lấy tính mạng của những đứa con mình dứt ruột sinh ra.
Từ chuyên môn chữa bỏng đến những kĩ thuật tiên tiến cứu người, câu chuyện người phụ nữ có trái tim nằm ngoài lồng ngực đã được Giáo sư Lê Năm cứu sống là một minh chứng cho điều kì diệu bởi bàn tay và tấm lòng của một lương y.
Trái tim được sống
Giáo sư Lê Năm vẫn nhớ rõ khuôn mặt của người đàn ông đến nhờ cậy bác sĩ cứu sống vợ mình hôm ấy, một Chính ủy Biên phòng già nua đã mười năm sống chung với bệnh tình tai quái của người vợ. Bà bị bệnh ung thư vú, việc cắt và xạ trị đã đến mức tiêu hủy luôn những chiếc xương sườn và cả cánh tay phải.
Điều trị tại Bệnh viện Việt Đức, nhờ sự giới thiệu của các bác sĩ, người chồng lại thêm một lần khăn gói đưa vợ sang Viện bỏng Quốc gia không phải để chữa bỏng mà để cứu sống trái tim đang có nguy cơ rơi ra khỏi lồng ngực. Đó là thời điểm Viện phát triển chuyên khoa Điều trị liền vết thương, người phụ nữ 61 tuổi được Giáo sư Lê Năm tiến hành phủ da "đắp" lại lồng ngực. Có lẽ vì quá yêu nghề nên Giáo sư không nhận rằng nghề bác sĩ của mình là nghề áp lực nhất. Để quyết định một phác đồ điều trị cho một bệnh nhân đã khó, lại cùng lúc có đến hàng chục bệnh nhân nguy kịch như thế. Những giây phút ấy vị bác sĩ cũng "thập tử nhất sinh", phải tìm cách đặt dao mổ ở đâu cho đúng để không chạm đến trái tim, những công đoạn tỉ mỉ tới từng chi tiết để tạo một lồng ngực mới cho bệnh nhân. Chỉ một sai sót nhỏ cũng dẫn đến cái chết tức thì, dường như không ai có thể hiểu được áp lực của công việc cứu người lặng lẽ ấy.
Nhập viện cùng lúc với trường hợp của vợ ông Chính ủy còn có một bệnh nhân bị tiêu hủy hết xương hàm và thịt ở má cũng do xạ trị. Khó khăn hơn ở bệnh nhân này là tình trạng nhiễm trùng với mùi thối phát ra như " người bốc mả". Thành công của Giáo sư Lê Năm chính là một lúc cứu sống được 2 bệnh nhân nặng này, và ông chỉ thở phào khi họ được ra về với cuộc sống bình yên phía trước.
Giáo sư Lê Năm gắn bó với Viện bỏng Quốc gia đến nay đã được hơn 30 năm. Sinh ra ở Can Lộc Hà Tĩnh, từ một sinh viên y khoa của Quân khu 4 đến người đứng đầu ngành về chữa bỏng là cơ duyên mà chính Giáo sư không định liệu được. Niềm say mê và yêu nghề nảy nở, rồi lớn dần và miệt mài khi nào không biết. Khởi nghiệp bằng công tác chuyên môn chăm sóc người bệnh, từ khi Viện bỏng mới chỉ là Khoa bỏng nhỏ bé nằm lọt thỏm trong khuôn viên Viện Quân y 103, nghiên cứu sinh Lê Năm ngày đó đã xin được ở lại luôn tại khoa để chăm sóc bệnh nhân cả ngày lẫn đêm.
Giáo sư nói rằng: Cảm quan trên làn da người càng kì diệu, khi bỏng lại càng đau đớn gấp bội phần. Chính vì điều đó chỉ khi không còn tiếng kêu la than thở của bệnh nhân, vị bác sĩ mới cho phép mình ngả lưng lấy sức. Miệt mài chữa bỏng, Giáo sư ví mình như anh nông dân trồng cây trên đất chết ( tái tạo lại thịt da cho bệnh nhân bỏng tỉ mẩn như công việc trồng cây). Chỉ đến khi bệnh nhân của mình khỏi hẳn, bác sĩ mới hết trăn trở. Là người đứng mũi chịu sào, trải qua quá trình gây dựng đến nay Viện Bỏng quốc gia dưới sự chỉ đạo của Giáo sư, Thiếu tướng Lê Năm đã nghiên cứu và phát triển gần 40 kỹ thuật mới, hiện đại như: kỹ thuật siêu lọc máu; cắt bỏ hoại tử sớm ghép da ngay trong điều trị bỏng sâu; kỹ thuật nanô trong điều trị tại chỗ vết thương bỏng; nuôi dưỡng sớm ngay từ những giờ đầu tiên điều trị bệnh nhân bỏng nặng; sử dụng vạt da siêu mỏng có nối mạch vi phẫu trong phẫu thuật tạo hình…
Ngày còn là Khoa bỏng Viện Quân y, các bệnh nhân bỏng trên 50% là gần như không có cách nào cứu được chưa kể bỏng sâu, nhưng với công nghệ hiện tại của Viện, tỉ lệ tử vong do bỏng với diện tích lên đến 95% cơ thể giảm từ 10% xuống chỉ còn 1%.
Bác sĩ và chiếc xe đạp Thống Nhất
Nhắc đến bệnh nhân Hà "cháy", Giáo sư Lê Năm không thể cầm lòng được. Đôi mắt đỏ hoe, ông nhớ lại câu chuyện về chiếc xe đạp Thống Nhất - món quà tri ân quý giá và bất ngờ nhất từ người bệnh. Ông Hà vào Khoa bỏng Viện Quân y 103 điều trị năm 1986 khi bác sĩ Lê Năm còn là một nghiên cứu sinh thực tập.
Thời bao cấp, thiếu cơm ăn, nước uống, việc điều trị cho một bệnh nhân bỏng nặng như ông Hà là cả một khó khăn rất lớn. Bác sĩ Năm ngày đêm túc trực, chính tay mình tỉ mẩn rửa vết thương, chăm sóc cho ông hàng ngày. Tình cảm vừa là mối quan hệ bác sĩ- bệnh nhân, lại là hai người lính cùng quê, bác sĩ yêu mến đặt cho ông biệt danh Hà "cháy" và mỗi bữa Giáo sư Lê Năm đều dành cho mẹ già đi chăm sóc ông Hà ở viện một phần cơm từ bếp ăn quân đội, cưu mang hai mẹ con bệnh nhân trong hoàn cảnh lặn lội chữa bệnh giữa thủ đô không một xu dính túi.
![]() |
| Khu tưởng niệm đại danh y Lê Hữu Trác. |
Nghe câu chuyện của Giáo sư Năm, một người trẻ như tôi chưa bao giờ được biết đến thời khốn khó, vẫn không thể tưởng tượng ra được cảnh một vị bác sỹ lúc đó dùng chiếc xe đạp Thống Nhất của mình, lách cách quãng đường xa gần 40 cây số, quay đi quay lại 2 chuyến để chở hai mẹ con bệnh nhân của mình ra ga Hàng Cỏ lên đường về quê. Phòng bì thời bây giờ là giá trị, nhưng ở những năm phấn đấu của Giáo sư Lê Năm, bác sĩ trẻ được tôi luyện trong môi trường giữa con người với nhau chỉ là tình người thuần khiết.
Sau này, năm 1991, trước cổng nhà Giáo sư Lê Năm, có một người khách lạ cùng với chiếc xe đạp Thống Nhất oách nhất làm quà tặng cho các con của vị bác sĩ đã từng cứu sống mình và mẹ già lúc bệnh tật và nghèo đói giày vò.
Tôi có thói quen đặt câu hỏi cho nhiều vị bác sĩ rằng: Có bao giờ cứu sống một con người bên bờ vực chết khi người đó không phải là một ai đó thuộc hàng VIP. Theo quan điểm của tôi, chuyện cứu sống con người bây giờ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cái cơ bản là có thể lo đủ được chi phí của dịch vụ y tế hay không? Tôi không tin tưởng lắm với một số người luôn bô bô nói về thành tích cứu người của bản thân trong khi nếu đứng trước một quyết định khó khăn là cứu hay không cứu thì luôn chọn phương án "makeno" (mặc kệ nó).
Trường hợp bệnh nhân Mông Văn Hưng, em bé 10 tuổi có cánh tay treo khối u nặng đến hơn 4kg được Giáo sư Lê Năm chữa trị làm cho hi vọng mong manh về lòng tốt của tôi được củng cố. Cậu bé Hưng chẳng có gì ngoài khối u to ở tay đó cả, hi vọng được nhen nhóm khi một tờ báo đứng ra nhờ cậy Giáo sư Lê Năm cứu trợ cho hoàn cảnh đáng thương của em. Có thói quen đã làm việc gì là làm đến cùng, trong khi các nhà hảo tâm khác dần dần bỏ cuộc vì tình hình quá khó có thể cứu được cánh tay cho em, một số người đưa ra phương án cắt bỏ cả cánh tay của Hưng, thì bác sĩ Năm lại kiên quyết giữ lại.
Tự đứng ra kêu gọi các tổ chức từ thiện khác quyên góp tiền, chủ trì một cuộc hội chẩn cho cu Hưng "VIP" khối u được cắt bỏ, cánh tay em được giữ lại, cho đến bây giờ cánh tay ấy chẳng có một dấu hiệu gì chứng tỏ nó đã từng mang một khối u nặng đến 4kg. Giáo sư khẳng định bệnh nhân đến ông chữa bỏng chẳng có một ai giàu có cả. Dường như đã mang nghiệp với bỏng cháy, cuộc đời chỉ có thể trơ lại tro tàn. Bệnh nhân nhờ cậy, bác sĩ chỉ còn cách đi cầu cứu người khác để có thể giúp được người hi vọng vào mình. Đó chính là phương pháp xã hội hóa, công tác xã hội mà người ta thường nói đến một cách văn hoa. Thật vui vì trong bộn bề cuộc sống, phát hiện ra xung quanh là tình thương con người vô bờ bến.
Còn nhớ ngày Thiếu tướng Lê Năm bảo vệ thành công tấm bằng Giáo sư Tiến sĩ, ông chỉ nhận về mình một nửa, nửa còn lại phải chia cho "bà ấy", người vợ không bao giờ toan tính thua thiệt với chồng, lặng lẽ nuôi thành người 4 đứa con (2 trai, 2 gái) cho Giáo sư Lê Năm miệt mài làm việc. Chưa bao giờ người ta thấy ông không về nhà ăn cơm, có thể nhiều lúc không thể bê nổi bát cơm vì người bệnh nhưng là việc có tư tưởng chỉ ăn cơm vợ nấu như một cách bù đắp cho vợ, cho con.
|
Tay cứu người, tay mở đường xẻ núi Từ năm 2003, GS Lê Năm và Viện bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác đã được Bộ Y tế giao cho thực hiện dự án trùng tu và tôn tạo Khu tưởng niệm Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác tại Hương Sơn-Hà Tĩnh. Dự án 3 hạng mục chính là nhà thờ và lăng mộ Hải Thượng Lãn Ông kết nối với chùa Tượng Sơn được xây dựng trải rộng trên địa bàn 3 xã bán sơn địa của huyện Hương Sơn. Là một công trình mang tầm quy mô văn hóa lớn, không chỉ mang ý nghĩa lịch sử tôn vinh thanh thế, sự nghiệp phẩm chất cao cả của Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác mà còn biểu hiện sự tri ân của hậu thế với người đi trước, thỏa mãn tâm nguyên của Đại danh y về tình người cao quý. Để xây dựng công trình mộ và đài tưởng niệm Giáo sư Lê Năm đã dồn tất cả tâm huyết để theo đuổi và thuyết phục được sự đồng lòng của các bộ, ban, ngành….Ngoài ra để thi công công trình được ví như một Vạn lý trường thành thu nhỏ này (với nắp mộ nặng gần 5 tấn và tượng đài Đại danh y bằng đá cao 15m), Giáo sư Lê Năm cùng những người bạn tri kỉ đã quyết tâm đi cùng dự án trong suốt 10 năm trời để đến 100 năm sau hậu thế sẽ nhắc đến kỳ tích này và những người xây dựng lên nó như những vị bác sĩ mở đường xẻ núi. |

