“Bí mật và công khai” - Sự tích một đám rước Thành hoàng
Văn hóa làng xã bao trùm và thẳm sâu nơi đồng bằng Bắc Bộ. Ngoài họ mạc, gia tộc thì việc thờ chung Thành hoàng, tổ chức chung Lễ hội thật là tiêu biểu. Dù đi đâu, về đâu, hễ cứ mỗi dịp Tết đến, Xuân về, con dân làng tôi lại có mặt ở quê hương để thưởng thức không khí đình đám truyền thống đầy ấn tượng.
Làng Văn Nội nay thuộc phường Phú Lương, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Khi xưa thuộc hàng tổng - Tổng Xốm. Làng làm áo tơi thì gọi là Xốm áo tơi. Làng làm nón thì gọi là Xốm nón. Làng có nghề hoạn lợn thì gọi Xốm hoạn lợn. Tuy nhiều Xốm nhưng chung Quan Anh. Nghĩa là xốm này tôn trọng xốm kia nên cứ gọi nhau, tôn nhau làm anh cả.
Ngày lễ trọng của làng tôi vào 11 Tết âm lịch. Đó là ngày mất của một vị tướng thời Hai Bà Trưng. Vị tướng ấy có tên hiệu Chu Bá. Tên thật là Đống, người gốc Thanh Hóa. Kiêng tên thật của vị thánh, nên người quê tôi gọi chệch những gì liên quan tên Đống thành chòm, mô…
Truyền thuyết kể rằng: Trong một trận đánh giặc ngoại xâm phương Bắc, cánh quân của tướng Chu Bá thất trận, còn Chu Bá bị thương. Trên đường rút khỏi vòng vây, do vết thương quá nặng, Chu Bá trút hơi thở cuối cùng tại một vị trí giữa cánh đồng làng tôi. Sáng hôm sau, dân làng thấy một đống đất mới mọc cao, bên cạnh đó còn một thanh gươm lấp lánh. Sau mới biết có một vị tướng hóa tại nơi này.
Lại theo các cụ truyền lại: Người chết mà mối xông lấp đầy, tôn cao là linh thiêng, là kết. Do vậy, người quê tôi dựng quán thờ tướng Chu Bá. Từ đó, cứ đến ngày mười một Tết âm lịch hàng năm được lấy là ngày Đám mà bây giờ theo lối mới gọi là lễ hội. Người quê tôi vẫn cứ gọi là ngày Đám. Tết Nguyên đán là của cả nước. Ngày Đám là của riêng làng tôi. Chính vì thế, con cháu đi xa, tết không về được thì ngày Đám phải về. Ngay từ ngày mồng bảy Tết, quê tôi đã làm quang làng, sạch ngõ. Ngày xưa đường làng lát gạch thì nhà nhà gánh nước rửa đường. Ngày nay, lớp trẻ tổng vệ sinh các nơi công cộng.
Có một quy định bất thành văn nhưng được người quê tôi tự giác chấp hành. Đó là “động thổ”. Tức là đánh động vùng đất mình đang sống. Kể từ ngày mồng một Tết cho đến sang canh giữa ngày mồng mười và ngày mười một tháng Giêng âm lịch, ở quê tôi không có tiếng trống. Chỉ sau khi ở Đình nổi trống sang canh vào Đám thì mới gọi là động thổ. Quy định ấy ăn sâu vào văn hóa làng quê tôi. Thậm chí, trước ngày mười một Tết âm lịch, gia đình nào không may có người khuất bóng thì trong đám tang cũng không có tiếng trống vì làng chưa động thổ.
Trước đây, quê tôi năm nào cũng rước. Đám rước gồm 3 kiệu có đòn xoay. Và rước tôn trọng nghiêm ngặt quy định: “Rước ra bí mật, rước về công khai”. Ngày nay, vài năm mới tổ chức rước một lần, hoặc nhân dịp ngày trọng đại của đất nước mới rước. Tôi xin kể rõ điều này: Phần mộ của tướng Chu Bá - Thành hoàng làng tôi ở ngoài đồng, còn nơi thờ Thành hoàng lại ở trong đình làng. Cự ly từ phần mộ đến nơi thờ tự cách nhau khoảng 800 mét.
![]() |
| Rước lễ làng của dân tộc Việt Nam. |
Khi xưa, làng tôi rước bài vị tướng Chu Bá từ phần mộ về lập đình thờ tôn Người làm Thành hoàng. Sau đó, hàng năm tổ chức rước từ đình ra quán, rồi lại rước từ quán về đình đều công khai. Nhưng từ chỗ công khai, lý do làm sao lại có chiều rước bí mật như bây giờ. Đó là rước bí mật từ đình ra Quán – nơi phần mộ của Thành hoàng Chu Bá.
Các cụ kể lại, khi xưa lúc dân cư còn ít, còn là một làng, một đình thì không có chuyện rước bí mật. Sau dần, người đông lên, ở rộng ra, phải chia một làng thành hai làng. Chính lúc này, phức tạp nảy sinh. Làng nào cũng muốn nhận Thành hoàng là của làng mình. Tranh luận rồi lại điều đình mãi mà chẳng xong. Đang lúc bí bách thì một già làng đề xuất giải pháp: Mai là ngày Đám. Làng nào rước được bài vị Thành hoàng ra Quán trước thì Thành hoàng thuộc về làng đó. Và cũng vẫn vị già làng đó bí mật hiến kế, cho dù kế ấy có thể là khôn lỏi, nhưng vẫn được ghi công bởi quá kính trọng và yêu quý Thành hoàng.
Theo lẽ thường, trước sang canh ngày mồng mười và ngày mười một thì dân làng đốt đuốc, reo hò, khiêng kiệu rước bài vị Thành hoàng từ đình ra quán để hôm sau rã đám sẽ rước Ngài từ quán về đình. Như vậy, phải cùng lúc hai làng cùng nổi đuốc rước ra. Do tính toán từ trước nên làng Văn Nội đã bí mật rước bài vị Thành hoàng ra sớm hơn giờ quy định. Đúng giờ G, làng đối tác đốt đuốc, reo hò rước ra, thì đã thấy đuốc làng Văn Nội bập bùng phía trước cùng tiếng reo hò vang dậy. Hốt hoảng, đám rước làng nọ chạy thục mạng đuổi theo. Hại thay, quá vội vàng nên bài vị Thành hoàng từ kiệu rơi xuống đất. Thế là chẳng phải phân giải, từ đấy, Thành hoàng Chu Bá là của làng Văn Nội quê tôi. Và cũng từ ấy, quê tôi giữ phong tục “Rước ra bí mật, rước về công khai”.
Từ thuở xa xưa, trong làng chọn ra tám người trai tráng lập thành tổ tuần tra bảo vệ xóm làng, đồng ruộng, chẳng khác nào như đội Thủy lợi bây giờ. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, đội tuần không còn nữa, nhưng người quê tôi lại chọn tám cụ ông cao tuổi nhất trong làng lập nên hội Cụ Nhất. Công to, việc lớn trong làng, con cháu đều báo cáo và xin ý kiến các cụ Nhất.
Nếu trong năm mà có cụ nhất về với tổ tiên thì đúng vào ngày Đám sẽ tiến cử các cụ Nhất bù vào. Và ngày Đám, theo thứ tự tuổi cao, từ cột trụ đình trở ra là các cột đèn tượng trưng các cụ Nhất, tiếp theo mới tới cột đèn của các cụ cao niên nhưng chưa được xếp hàng cụ Nhất. Vào giờ rã Đám, người quê tôi và đông đảo khách thập phương, ai cũng chuẩn bị sẵn một vật dễ bắt lửa và giữ được lửa chờ sẵn nơi Quán. Sau thủ tục lễ tạ nghiêm trang, tất cả vàng mã được đem đốt gọi là hóa vàng. Trong đêm xuân, giữa bao la trời đất, ngọn lửa rực hồng soi tỏ từng gương mặt. Ai nấy đều đẹp hơn, yêu quý nhau hơn. Thế rồi, mọi người châm lửa hóa vàng mang về nhà mình để lấy Đỏ. Ánh lửa tâm linh bập bùng nối thành hàng dài từ quán về làng rồi tới từng gia đình. Đó là những ngọn lửa cầu cho sự may mắn của một năm mới. Sau ngày Đám quê tôi, mọi người lại tập trung vào mưu sinh và chờ đến ngày này năm sau.
Chúng tôi, bao người con xa quê, tuy mỗi người, mỗi điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, nhưng đều hướng về quê hương với tình cảm thiêng liêng, da diết. Càng lớn tuổi thì nỗi nhớ ấy càng thôi thúc. Và thế là, Hội Đồng niên ra đời. Những người nhìn thấy mặt trời cùng năm, không phân biệt, trai, gái nhóm họp nhau thành hội. Ngày Lễ Thánh cùng nhau bái lạy trước đình. Rồi một vật kỷ niệm, có thể là bức hoành phi, câu đối, đỉnh đồng… được dâng lên và treo, đặt ở vị trí trang trọng giữa đình. Cũng chính từ hội đồng niên làm bước đệm cho tuổi trời tiếp theo. Trước đây, 50 tuổi, đàn ông ra đình làm lễ nên Cụ, đàn bà ra chùa đi Quy thành Vãi. Bây giờ, đời sống cao, 50 còn trẻ lắm, tuổi nên Cụ ở quê tôi tăng lên 52, đi Quy vẫn ở tuổi 50.
Đình Văn Nội có tiếng linh thiêng. Ngay cạnh Hà Nội mà suốt thời kỳ chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ, cả làng tôi không dính một quả bom nào. Duy có một cụ bà bị mảnh đạn gãy tay thì lại bị ở nơi khác. Thời Pháp thuộc, một viên quan 5 Pháp đã bị thiêu cháy cùng xe zeep ngay trước cửa đình. Năm 1957, chính bố đẻ tôi, lúc đó là dân quân đã phải canh hai thi thể, một nam, một nữ chết hộc máu vì cả gan làm chuyện bậy bạ trước cửa cung cấm đình làng. Ngày ấy, dân làng phải khoanh vùng đào sâu xuống 3 mét nơi đôi trai gái kia nằm chết rồi thay đất khác vào chỗ đó.
Bên sân đình làng Văn Nội có một cây đề rất to. Con cháu hỏi cây đề có từ bao giờ thì các cụ cao niên bảo ngày các cụ sinh ra đã thấy cây đề to thế rồi. Có lẽ cây đề có từ thủa lập làng. Chính vì thế, cây đề chứng kiến biết bao biến cố của làng. Từ một nhánh Hát giang chảy bên cạnh cây đề nay đã thay bằng một dãy phố. Cây đề vẫn không ngừng buông rễ nở thân. Và dưới tán xanh quanh năm rì rào nắng gió ấy có bao điều lớn lao đã và sẽ đi vào lịch sử của làng.
Lại có truyền thuyết rằng, cây đề làng Văn Nội là nơi người Tầu yểm bùa giữ của. Một thời đã có người Tầu hỏi mua cây đề với giá rất cao mà làng không bán. Họ trả tới giá mà mỗi lá đề tính bằng một đồng tiền, làng cũng không nghe… Rõ ràng đến nay, cây đề to hơn, lá nhiều hơn, nhưng trộm nghĩ, giả sử bây giờ tất cả lá cây đề biến thành vàng thì cũng không thể sánh được với những giá trị nhân văn của các thế hệ dân làng tạo dựng. Đó chính hồn cốt làng quê

