Thơ hậu hiện đại có gì mới?
Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.
Một số bạn yêu thơ hỏi tôi: "Thơ hậu hiện đại có gì mới?". Tôi cho rằng cái mới nhất của thơ hậu hiện đại là sự nghi ngờ chính ý niệm "bản chất của thơ" và không còn tin vào một trật tự thẩm mỹ duy nhất nữa. Thơ hiện đại thường vẫn hướng tới chiều sâu, tính cô đặc, cái độc sáng và một kiểu "nghệ thuật cao", còn thơ hậu hiện đại lại thích phá vỡ những chuẩn ấy, kéo thơ xuống gần đời sống hơn. Thơ hậu hiện đại pha trộn rất mạnh giữa thơ tự do cực độ, thơ văn xuôi, thơ thị giác, thơ trình diễn, liên văn bản, lấy chất liệu có sẵn rồi biến đổi lại.
Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.
Thơ Lê Vĩnh Tài mang đậm những đặc điểm của cảm quan hậu hiện đại: tư duy mảnh vỡ, lối viết phi trung tâm, sự pha trộn giữa cao cả và đời thường, giữa huyền thoại và hiện thực, giữa trữ tình và giễu nhại, đồng thời đặt ra những suy tư sâu xa về ngôn ngữ, về quyền lực, về bản sắc văn hóa và số phận con người.
Cấu trúc phân mảnh với những trường liên tưởng mới
Điều trước tiên làm nên dấu hiệu hậu hiện đại trong thơ Lê Vĩnh Tài là cấu trúc phân mảnh và lối tổ chức văn bản như một trường liên tưởng hơn là một đường dây tự sự liền mạch. Trường ca vốn thường gắn với cảm hứng sử thi, với mạch kể lớn, với một trung tâm giá trị khá rõ. Nhưng ở Lê Vĩnh Tài, trường ca không vận hành như một "bản anh hùng ca" thống nhất mà như một bề mặt vỡ, nơi ký ức, truyền thuyết, hiện tại, thân thể, phong tục, lịch sử và những ám ảnh vô thức va đập liên tục vào nhau.
Cấu trúc các bài thơ không đi từ mở đầu đến kết thúc theo logic kể chuyện, mà mở ra bằng những mảng hình ảnh, những chấn động giác quan, những tiếng gọi, những khúc gãy của ý thức. Chính sự đứt đoạn ấy là một phương thức biểu đạt khi hiện thực hậu hiện đại không còn cho phép nhà thơ kể bằng một giọng duy nhất, một tuyến duy nhất.
Từ cấu trúc phân mảnh ấy nảy sinh một đặc điểm nổi bật khác là sự giải thiêng và tái cấu trúc hình thức trường ca. Lê Vĩnh Tài vẫn viết về quê hương, Tây Nguyên, người Mông, rừng, lịch sử, ký ức cộng đồng, tức là vẫn chạm vào những đối tượng từng thuộc phạm vi "lớn" của thơ ca. Nhưng anh không tiếp cận chúng bằng giọng ngợi ca trang trọng, khép kín, mà bằng một giọng đa tạp, vừa thiết tha vừa ngờ vực, vừa đau xót vừa mỉa nhẹ, vừa linh thiêng vừa trần trụi với thao tác rất hậu hiện đại khi từ chối các "đại tự sự" thuần nhất, bóc trả lịch sử về cho những mảnh đời, những di vật, những tiếng nói bên lề.
Cái đáng chú ý hơn là thơ anh vừa giải thiêng vừa tái thiêng hóa hiện thực trên một bình diện khác. Anh không phá bỏ linh thiêng để thay bằng hư vô, anh phá bỏ những khuôn sáo thẩm mỹ cũ để đánh thức một linh thiêng khác, sâu hơn và bản địa hơn.
Trong trường ca "Vỡ ra mưa ấm", Tây Nguyên hiện lên như một không gian vừa địa lý vừa huyền nhiệm: "một bông lúa rẫy cũng khát như người", "muối ở Tây Nguyên là hai bầu vú mẹ", "rừng làm đêm đen/ rừng làm kho tàng /rừng làm mặt trời rừng làm ý tưởng".
Ở đây, thế giới tự nhiên không còn là phông nền cho cảm xúc, mà trở thành một chủ thể sống, có ký ức, có thân thể, có ngôn ngữ riêng. Nhưng cách diễn đạt không hề đi theo lối tượng trưng cổ điển, nó được kiến tạo bằng những cú nối bất ngờ, những đồng hiện dữ dội, những chuyển đổi cảm giác táo bạo.
Một phương diện rất quan trọng của thơ hậu hiện đại Lê Vĩnh Tài là sự phi trung tâm của cái tôi trữ tình. Trong thơ hiện đại, cái tôi thường vẫn là trung tâm tổ chức ý nghĩa, dù có cô đơn hay phân thân với câu hỏi "tôi là ai? tôi về đâu?" xuất hiện như một dấu hiệu của khủng hoảng bản thể, nhưng ngay sau đó cái tôi không đi tìm một bản ngã khép kín mà hòa vào mạng lưới quan hệ. Đi cùng với sự phi trung tâm ấy là thủ pháp liên văn hóa, liên huyền thoại và liên diễn ngôn rất giàu sức gợi.
Trong cùng một trường liên tưởng, Lê Vĩnh Tài có thể đặt cạnh nhau DamSan, con gái Mặt Trời, Yàng, lễ bỏ mả, tượng nhà mồ, rồi bất ngờ nối sang "hoa sữa", "mùa thu", "pha lê", "Eva hái táo", "nghìn lẻ đêm", "chữ viết Ả Rập". Thơ anh vì thế không tồn tại trong một không gian văn hóa khép kín mà liên tục mở cửa, giao cắt, pha trộn.
Nhưng sự pha trộn này không hề ngẫu hứng tùy tiện, nó cho thấy một quan niệm hậu hiện đại về văn bản khi mọi hình ảnh đều có thể bước vào bài thơ nếu chúng tạo được điện trường liên tưởng mới. Chính kiểu dựng tứ ấy làm nên chất hậu hiện đại ở Lê Vĩnh Tài khi bài thơ không phát triển như một luận đề, mà bung nở như một mê cung của ký hiệu.
Những liên tưởng giàu nội hàm sáng tạo
Đóng góp đặc sắc nhất của Lê Vĩnh Tài về mặt nghệ thuật là cách dựng hình tượng bằng liên tưởng giàu nội hàm sáng tạo. Ở thơ anh, liên tưởng không chỉ nhằm làm đẹp câu chữ mà là phương thức khám phá bản chất sự vật.
Những câu như "muối ở Tây Nguyên là hai bầu vú mẹ", "bạn ngang trời buồng phổi đám mây", "tượng nhà mồ lấy ra từ mắt gỗ", "quê hương hồi sinh bông hoa cà phê trắng phi lý, dịu dàng", "thơ chơi trò chơi mảnh vỡ", "mỗi buổi sáng thơ đưa gương mặt của thơ/ cho người ta vẽ" đều cho thấy khả năng nối ghép những trường nghĩa tưởng như xa nhau.
Cái mới ở đây không phải chỉ là lạ hóa, mà làm xuất hiện một logic cảm xúc khác là logic của thân thể, của vô thức, của kinh nghiệm văn hóa bản địa, của những vật thể rất gần đời nhưng được nhìn bằng con mắt luôn muốn bẻ gãy thói quen tri giác. Đó là phẩm chất quan trọng của thơ hậu hiện đại.
Một biểu hiện khác không thể bỏ qua là tính tự phản tư về ngôn ngữ và về chính thơ. Ở nhóm thơ ngắn, Lê Vĩnh Tài nhiều lần biến thơ thành đối tượng để quan sát, đối thoại, thậm chí giễu nhại. "Hãy để thơ đói", "thơ đi làm thêm/ để nuôi con và sống", "thơ chơi trò chơi mảnh vỡ", "thơ biết có những chi phí cho sự giả vờ", những câu ấy cho thấy nhà thơ không còn nhìn thơ như một phạm trù thuần mỹ, tách khỏi đời sống, mà kéo thơ xuống ngay giữa lao động, thất bại, xấu hổ, trò chơi, mảnh vỡ.
Đây là một kiểu mỹ học rất hậu hiện đại để giải ảo về thi sĩ, giải thiêng về thơ, đồng thời đặt thơ vào một cuộc thử thách nghiêm khắc với chính nó. Nói cách khác, thơ không còn là nơi phát ngôn chân lý đã hoàn tất, mà là nơi chân lý luôn bị thử lửa.
Tuy vậy, điều làm thơ Lê Vĩnh Tài vượt lên khỏi một lối chơi hình thức đơn thuần là chiều sâu tư tưởng nhân văn và ý thức văn hóa rõ rệt. Đằng sau những mảnh vỡ ngôn ngữ, những cú trộn giọng, những liên tưởng táo bạo, vẫn là một nỗi đau bền bỉ trước sự mất mát của quê hương, sự tổn thương của rừng, sự lãng quên đối với các cộng đồng thiểu số, và sự bất lực của con người trước bạo lực lịch sử.
Về mặt thi pháp, thơ Lê Vĩnh Tài góp phần khẳng định một lối viết mà ở đó cấu trúc mở thay cho kết cấu khép, mảnh vỡ thay cho liền mạch, đa giọng thay cho đơn giọng, giễu nhại thay cho trang trọng đơn trị, thân thể và vật chất thay cho trừu tượng hóa khô cứng, bản địa và ngoại biên thay cho cái nhìn trung tâm. Quan trọng hơn, anh cho thấy thơ Việt hoàn toàn có thể bước vào quỹ đạo hậu hiện đại mà vẫn giữ được độ nóng của đời sống, độ sâu của ký ức văn hóa và vẻ đẹp riêng của tiếng Việt.
Có thể nói, thơ Lê Vĩnh Tài là một minh chứng rõ rệt cho khả năng dung hợp giữa tinh thần hậu hiện đại và căn cốt bản địa. Ở anh, hậu hiện đại không phải là một nhãn hiệu du nhập, càng không phải là sự phá phách hình thức cho lạ, mà là một phương thức nhận thức hiện thực trong tình trạng đổ vỡ, đứt gãy và mất trung tâm của đời sống đương đại.
Anh mở rộng giới hạn biểu đạt của thơ, làm giàu năng lực liên tưởng của câu thơ, tái cấu trúc thể trường ca và trao cho ngôn ngữ một khả năng bộc lộ mới về cái đau, cái mất, cái linh thiêng, cái thấp bé và cái chưa thể gọi tên trong cùng một chuyển động thẩm mỹ với cách thơ tồn tại trong thời hiện đại muộn như một hình thức sống sót của ký ức, một trò chơi mảnh vỡ của ngôn ngữ, và một tiếng gọi nhân tính giữa thế giới đầy nứt vỡ.
