Tình yêu sau chiến tranh

Thứ Bảy, 16/07/2005, 07:18
Có thể nói chỉ đến văn xuôi hậu chiến thì tình yêu mới trở thành một đề tài độc lập, hiểu theo nghĩa nó được nhìn nhận như một hiện tượng tâm lý rất phổ biến nhưng luôn chứa đựng bí ẩn kỳ thú, luôn đòi hỏi được khám phá.

1. Đề tài tình yêu là một biểu hiện dễ thấy của cái nhìn “hướng nội”, cái nhìn quan tâm đến con người cá nhân của nhà văn Việt Nam thời hậu chiến. Trước đây văn học cách mạng rất kị chuyện tình cảm riêng tư nên đề tài này không được khuyến khích. Tất nhiên nói thế không phải là văn học cách mạng không đếm xỉa gì đến tình yêu đôi lứa mà là mỗi khi đề cập nó thường nằm trong hai trạng thái sau: Một là tình yêu như một phẩm chất, một vẻ đẹp tâm hồn của con người cách mạng.

Tình yêu trong trường hợp này thường hết sức trong sáng, đẹp đẽ, được nói đến với giọng điệu hết sức trữ tình, hết sức lãng mạn. Chẳng hạn như tình yêu “vô điều kiện” của cô Nguyệt trong “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu. Hai là chứng tỏ tình yêu chỉ là một vấn đề phụ, một cái gì quá nhỏ bé so với Tổ quốc, đảng, nhân dân. Kiểu như “Trái tim anh... chia ba phần tươi đỏ/ Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều/ Phần cho thơ và phần để em yêu/ Em xấu hổ thế cũng nhiều anh nhỉ” (thơ Tố Hữu).

2. Tình yêu đôi lứa với ý nghĩa là đời sống cá nhân trước đây phải chịu một thân phận bọt bèo hoặc bị can thiệp một cách thô bạo đến mức biến dạng, không còn là tình cảm riêng tư nữa. Do vậy trong quá trình tìm lại chính mình, tình yêu trong văn xuôi hậu chiến vẫn mang những “di chứng” của quá khứ.

Một số tác phẩm có đề tài tình yêu.

Trong “Nỗi buồn chiến tranh”, tình yêu của Phương và Kiên là một “nỗi buồn chiến tranh”. Cơn chấn động chính sự đã cuốn tất cả, trong đó có tình yêu, vào guồng máy chết chóc của nó. Nó cưỡng hiếp cô học trò 17 tuổi hồn nhiên trong trắng và đẩy chàng thư sinh vào cuộc đời cầm súng triền miên không lối thoát. Để đến khi gặp lại họ đã là hai mảnh vỡ của chiến tranh không thể hàn gắn.

Hãy nghe Phương nói về thân phận của tình yêu trong chiến tranh: “Chúng mình sinh ra trong trắng từ thời thơ ấu lớn lên trong trắng biết bao. Yêu nhau như thế. Em yêu anh và anh cũng vậy. Tốt đẹp và trong trắng. Ước mơ, hy vọng. Mẹ em như thế. Cha anh như thế. Một cuộc đời đẹp đẽ biết nhường nào... Và em là vợ anh chứ sao, nhưng đó là số phận trước đây, còn bây giờ là một số phận khác, chúng mình đã chọn nó. Chọn mà không hiểu. Và gọi là chọn chứ kỳ thực là không thể tránh được”.

Tình yêu của Phương và Kiên hay Sài và Hương (Thời xa vắng)... đều là những thân phận tình yêu. Kiểu “tình yêu - thân phận” như thế có thể nói là một đặc điểm riêng của tình yêu trong văn xuôi hậu chiến. Nó phản ánh tình trạng mất tự do dân chủ trong xã hội trước đây, phần nào cho thấy cái nhìn bàng quan, thậm chí rẻ rúng của xã hội đối với tình cảm  riêng tư của mỗi cá nhân con người.

3. Khi chuyện tình yêu được nói ra một cách thoải mái và trở thành một đề tài hấp dẫn cơn đói khát của độc giả thì đồng thời nó cũng được các nhà văn “lợi dụng” để truyền bá tư tưởng riêng của mình. Đó là sự triển khai một luận đề đời sống bằng bối cảnh và chất liệu tình yêu. Cô gái trẻ sống đầy ảo tưởng với tình yêu tôn thờ thần tượng.

Cuối cùng mọi cuộc tình đều tan vỡ, cô thấm thía một điều rằng: “Con người sẽ mãi mãi không trưởng thành khi nào còn trao gửi niềm tin vào kẻ khác cho dẫu đó là một thần tượng... Con người cần phải đặt niềm tin và trao gửi hy vọng vào chính bản thân mình, bởi lẽ bằng chính đôi chân của mình, họ sẽ đi tới cái đích tận cùng của đời sống”.

Ra đời trong bối cảnh mò mẫm tìm đường của đất nước sau chiến tranh, có tác phẩm đã phản ánh bi kịch “vỡ mộng” của cả một thế hệ. “Chuyện tình kể trong đêm mưa” của Nguyễn Huy Thiệp thực chất là câu chuyện ngụ ngôn chính trị. Cách viết rất kín, các chi tiết ngụ ý chính trị được tổ chức khéo léo.

Bạc Kỳ Sinh là hình ảnh của con người bị đánh bật gốc khỏi quê hương, một thân phận lưu lạc. Còn Muôn là một biểu trưng của quê hương, một quê hương đầy bi kịch sống trong sự đấu tranh đầy quyết liệt giữa an toàn và phiêu lưu, giữa cái bắt buộc và cái khát khao thật sự. Tình yêu của họ là một tình yêu đau khổ, đắm say nhưng buộc phải chia lìa. Hình ảnh trái tim rơi trên nền đất lạnh là ám ảnh thân phận lạc loài của tha hương và cả quê hương. Có thể nghĩ từ đây vấn đề chọn đường, vấn đề giữ bản sắc văn hóa, vấn đề “hợp lưu”...--PageBreak--

“Bước qua lời nguyền” của Tạ Duy Anh là câu chuyện tình cảm động của đôi trai gái yêu nhau nhưng bị ngăn cản bởi một lời nguyền tuyệt giao giữa hai dòng họ trong quá khứ sâu thẳm. Cùng với diễn biến của câu chuyện tình đầy trắc trở này, những góc tối đẫm máu và nước mắt, những nạn nhân của lịch sử được bung ra từ một sự dồn nén thâm niên, trong tiếng nức nở nghiến răng đầy cay đắng.

Hành động “bước qua lời nguyền” của cậu Tư để lấy Quy Anh cũng chính là bước chân dũng cảm của Tạ Duy Anh vượt qua một định mệnh văn chương nghiệt ngã.  Kiểu “tình yêu ngụ ngôn” nói trên là sản phẩm của một kiểu nhà văn mới.

4. Người ta vẫn nói tình yêu là đề tài muôn thuở nhưng luôn luôn mới là vì thế. Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “tình yêu là gì” hay để đưa ra một kiến giải, một triết lý về tình yêu, các nhà văn vẫn thường tìm đến người phụ nữ. Có lẽ bởi tình yêu nó cũng khó hiểu, cũng bí ẩn và luôn tiềm tàng biến đổi như tâm hồn đa cảm, đa đoan của người phụ nữ.

Trần Thị Hồng Hạnh trong bài “Những khuôn mặt tình yêu thời chiến tranh trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu" đã thống kê được ba kiểu tình yêu mà Nguyễn Minh Châu “trình bày” qua nhân vật Quỳ: “Vì anh... nên em yêu anh” -  kiểu tình yêu mang sắc màu đỏ thắm của đam mê, mãnh liệt và những cực đoan; “Em yêu anh mặc dù anh có thế nào đi chăng nữa” - kiểu tình yêu mang màu tím của sự thủy chung, lòng bao dung và nỗi buồn bã âm thầm vì tình yêu không được đền đáp; “Nếu như... thì tôi yêu anh” hay “Nếu như, em yêu tôi thì tôi sẽ tốt hơn” - kiểu tình yêu mang sắc màu xanh - màu xanh của hy vọng.

Nhân vật nữ của các nhà văn nữ là nơi thể hiện một cách phong phú những khuôn mặt, những trạng thái của tình yêu. Chẳng hạn như kiểu “tình yêu thờ cúng” của các thiếu nữ thị thành trong “Cát đợi” của Nguyễn Thị Thu Huệ. Hãy nghe cô gái, nhân vật chính của truyện, tâm sự: “Tôi không tin rằng mình lại có tình yêu bởi tôi mất nó quá lâu rồi... Tôi đem đặt nó lên một cái ban thờ, và siêng năng thờ cúng... Đêm nay, tôi sẽ sửa lại ban thờ... Một ban thờ mới, thờ anh”.

Các nhân vật nữ của nhà văn nữ thường là người phát ngôn triết lý tình yêu - triết lý của phụ nữ và kiểu phụ nữ. Có thể tìm được hàng tá “châm ngôn” tình yêu trong lời thoại của họ. Ví như: “Đời con gái dẫu say đắm, đam mê hay lạnh lùng, kiêu ngạo cuối cùng vẫn tan biến trong sự lừa dối của đàn ông. Tình yêu cũng phù phiếm như nhan sắc, làm sao thắng nổi cái vô hạn của thời gian” (“Lá phù du” - Đặng Thị Thanh Hương).

Những xúc cảm tình yêu kỳ lạ nhất, dị biệt nhất cũng có thể tìm thấy ở những nhân vật này: “Có đêm tôi ôm con gái, bàn tay sục vào gáy nó. Đến khi lùa tay vào mớ tóc dài và dày của nó, mới chợt thảng thốt tỉnh ra đấy là con gái mình chứ không phải là người đàn ông hồi tối” (“Hậu thiên đường” - Nguyễn Thị Thu Huệ).

Xúc cảm yêu đương đôi khi là nơi phát xuất của cảm hứng sáng tạo và trở thành cái đích duy nhất của sáng tạo. Chính vì thế tình yêu trong văn xuôi thời kỳ này đã tạo nên những tác phẩm văn xuôi đầy chất thơ, trong đó yếu tố cốt truyện bị xóa nhòa, diễn biến của “câu chuyện” cũng là diễn biến của dòng cảm xúc không đầu không cuối (“Vườn yêu” - Võ Thị Hảo v.v...)

Đào Đồng Điện
.
.
.