Sức gợi mở của hai bài thơ ngắn
I - Bài thơ "Át cơ" của Lê Đạt
Anh tìm về địa chỉ tuổi thơ
Nhà số lẻ, phố trò chơi bỏ dở
Mộng anh hường tìm môi em bói đỏ
Giàn trầu già
khua những át cơ rơi.
Trú quán trong hiện tại, với một nắm địa-chỉ-kỷ-niệm (địa chỉ được gọi tên bằng kỷ niệm) còn lưu giữ nơi tâm tưởng, Lê Đạt lần tìm về nguyên-quán-tuổi-thơ của mình. "Mộng anh hường tìm môi em bói đỏ" là câu thơ của ước muốn "sáp nhập", ước muốn nối lại một "trò chơi bỏ dở". Khoảng cách từ "mộng anh" tới "môi em" là cả một thời gian đủ cho người ta thực nghiệm những nghĩ suy... Nhưng tiếc thay, tuổi thơ vĩnh viễn qua đi, cuộc chơi cũng đã tàn, trò chơi cũng già như đời người. Cả khu vườn nơi thi sĩ trở về chỉ còn là chiếc hòm thư không đáy: "Giàn trầu già khua những át cơ rơi...". "Vận đỏ" đã rụng ngoài tầm tay!
![]() |
| Nhà thơ Lê Đại (trái) và nhà thơ Ngô Quân Miện. |
"Át cơ" là một trong ba bài thơ của Lê Đạt xuất hiện ngay sau vận hội đổi mới của đất nước. Chùm thơ in ra, gây được sự chú ý đáng kể trong bạn đọc, dĩ nhiên là có cả ý kiến không đồng điệu. Tôi còn nhớ lúc ấy, có một người đã nhận xét về câu cuối của bài thơ như thế này: Lê Đạt chỉ làm "phức tạp" những điều đơn giản. Đem ví cái ai cũng biết như lá trầu với một thứ không phổ cập lắm như quân bài át cơ là việc làm ngược đời, không đắc sách. Thật ra, đó chỉ là cách nói, cũng như câu thơ của Lê Đạt chỉ là một cách nói... Cách nói đó phù hợp với nội dung toàn bài, tiết kiệm được chữ, chí ít là tước bỏ được liên từ so sánh... Vả lại, vấn đề cần phải hiểu là: với tâm trạng của người tìm về tuổi thơ (hay - như tên một cuốn sách của Mác Xen Pơrút là "Đi tìm thời gian đã mất"), cái "thao tác tư duy" và cách thức diễn đạt ấy của Lê Đạt là hoàn toàn cần thiết và có ý nghĩa. Nói theo Chế Lan Viên "đó không chỉ là cảm xúc mà còn làm hóa chất giữa các cảm xúc".
II- Bài thơ "Cánh chim" của Ngô Quân Miện
Mây vừa qua, trăng đã thu
Tận cùng xa thẳm của hư vô
Cánh chim vội thế không hay biết
Trái đất sau lưng đã trở mùa.
Theo phép hành văn thông thường, thì "vừa qua" tất phải đi đôi với "đã tới" (Mây vừa qua, trăng đã tới). "Đặc cách" thay chữ "thu" vào đó, câu thơ trở nên tốc độ, nói được sự vận chuyển lớn của vũ trụ. Sự vận chuyển mà, "chệch" khỏi nó, mọi vật đều dễ "đụng đầu" vào hư vô. Hình ảnh cánh chim vì quá nóng vội (thơ Xuân Diệu: Chim nghe trời rộng dang thêm cánh), không hưởng, chứng kiến được cảnh: "Trái đất sau lưng đã trở mùa", cho thấy sự duy ý chí, bất chấp qui luật bao giờ cũng gặp phải bi kịch. Khi xưa, Ngô Quân Miện từng viết (về người xây dựng): "Tới lúc nhà cao lên ngói đỏ/ Là lúc ba lô lại khởi hành", bây giờ, trong bài thơ này, trách "Cánh chim vội thế…"…nhà thơ đã có sự thay đổi lớn trong nhận thức, cũng là phù hợp với tâm lý tuổi tác của ông

