Những cuộc chia lìa khởi tự đây...
Những cuộc chia lìa khởi tự đây
Cây đàn sum họp đứt từng dây
Những đời phiêu bạt thân đơn chiếc
Lần lượt theo nhau suốt tối ngàyCó lần tôi thấy hai cô bé
Áp má vào nhau khóc sụt sùi
Hai bóng chung lưng thành một bóng
“Đường về nhà chị chắc xa xôi”Có lần tôi thấy một người yêu
Tiễn một người yêu một buổi chiều
Ở một ga nào xa vắng lắm
Họ cầm tay họ bóng xiêu xiêuHai người bạn cũ tiễn chân nhau
Kẻ ở trên toa kẻ dưới tàu
Họ giục nhau về ba bốn bận
Bóng nhòa trong bóng tối từ lâuCó lần tôi thấy vợ chồng ai
Thèn thẹn đưa nhau bóng chạy dài
Chị mở khăn giầu anh thắt lại:
“Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi”Có lần tôi thấy một bà già
Đưa tiễn con đi trấn ải xa
Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng
Lưng còng đổ bóng xuống sân gaCó lần tôi thấy một người đi
Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân lyNhững chiếc khăn màu thổn thức bay
Những bàn tay vẫy những bàn tay
Những đôi mắt ướt tìm đôi mắt
Buồn ở đâu hơn ở chốn này?
Theo cách định nghĩa của các nhà chuyên môn thì ga - đó là đầu mối giao thông quan trọng. Với các nhà thơ hay mộng mơ suy tưởng, ga lại là nơi dễ làm họ nảy sinh những cảm giác về sự phù du của kiếp người. Nguyễn Bính là nhà thơ đi nhiều, sống nhiều, suốt cuộc đời lang bạt đó đây. Với ông, ga trở nên “thân quen” và dễ... sợ. Không sợ sao được. “Những cuộc chia lìa khởi tự đây” - Bao bi kịch ẩn giấu đằng sau vẻ ồn ào tụ hội ấy.
Bài thơ đặt ra 6 trường hợp cụ thể của sự chia biệt: chị em dắt nhau, bè bạn tiễn nhau, tình nhân đưa nhau, vợ chồng dẫn nhau, mẹ con dìu nhau, hình - bóng theo nhau... lả tả từng mảnh trước sân ga. Viết về những cảnh tượng ấy, giọng thơ Nguyễn Bính thấm thía xót thương!
Có những hình ảnh, chi tiết “đắt”, như cắt ra khỏi bài, dán vào trí nhớ người đọc. Nhà thơ Nga Sergei Esenin, người từng được suy tôn là thi sĩ của đồng quê, đã thuật lại một câu chuyện: Có lần, ông nhìn thấy một con ngựa đang gắng sức đuổi theo đoàn tàu hỏa (dĩ nhiên là không thể nào theo được) và hình ảnh ấy ám ảnh ông suốt một thời gian dài. Cái đối lập giữa những khối toa tàu đồ sộ và lưng còng bà cụ đi tiễn con ở khổ thơ thứ 6 trong bài thơ của Nguyễn Bính cũng gây nỗi xúc động và ám ảnh tâm trí người đọc không kém.
Bài thơ đọc dễ buồn. Càng buồn vì những cảnh ngộ ấy cứ tái diễn đêm ngày:
Những bàn tay vẫy những bàn tay
Những đôi mắt ướt tìm đôi mắt
Đúng ra, “những bàn tay vẫy” phải có hưởng ứng bởi “những bàn tay vẫy” khác, đằng này, chỉ “những bàn tay vẫy những bàn tay” thôi. Cũng như vậy, “những đôi mắt ướt” phải tìm “đôi mắt ướt”, nhưng không, “những đôi mắt ướt tìm đôi mắt”. Không biết những đôi mắt được tìm ấy có ướt theo hay không? Nhưng ướt làm gì nữa cho thêm buồn. Ngày nào, lần nào chẳng thế này? Bóng dáng nhà thơ bắt đầu hiện lên ở đây.
Hẳn có bạn đọc sẽ đặt câu hỏi: Tại sao tác giả lại vẽ lên một sân ga ảm đạm như vậy? Xin thưa, bài thơ được tác giả sáng tác từ năm 1937. Thời ấy, giao lưu các miền trong nước chưa thông như bây giờ, các cuộc đi phần nhiều vì miếng cơm manh áo, vì kế sinh nhai (thơ Tố Hữu: “Cha trốn ra Hòn Gai cuốc mỏ/ Anh chạy vào Đất Đỏ làm phu”), có đâu tấp nập những chuyến viễn du, đôi khi “kết hợp làm ăn kinh tế” như chúng ta ngày nay
