Nhà văn chỉ tựa vào tài năng

Thứ Ba, 06/10/2009, 13:15
Trước đây, các nhà quản lý và nghiên cứu thường chia những sáng tác văn chương theo đề tài: Văn học công nhân, văn học nông thôn, văn học lực lượng vũ trang, văn học miền núi... Đi liền với số lượng tác phẩm là một đội ngũ những người viết. Cách chia này ảnh hưởng nhiều bởi quan niệm văn chương lấy phản ánh hiện thực làm cứu cánh.

1. Đề tài của văn chương

Thực ra thì đích hướng tới của văn chương nghệ thuật không phải dừng lại ở phản ánh hiện thực mà qua phản ánh hiện thực, các tác giả muốn gửi những thông điệp về tư tưởng, những chuẩn mực về tình cảm, thẩm mỹ đối với xã hội và con người.

Như vậy, có thể viết về nhiều đề tài khác nhau, nhưng đích hướng tới lại giống nhau. Cho nên quan niệm một thời "văn học là tấm gương phản ánh hiện thực", rồi cứ soi vào tác phẩm xem có giống hiện thực không là một quan niệm nông cạn, đến nay đã được khắc phục. Nhưng con lắc của vấn đề đã bị chao mạnh quá mức đến gần như lộn ngược, nên hiện nay nhìn vào nhiều tác phẩm chẳng thấy hiện thực đâu cả. Nhiều tác phẩm chỉ là bịa đặt phi hiện thực để gửi gắm một cách sống sượng những ý đồ, những quan niệm phi thẩm mỹ.

Trước đây, tiểu thuyết "Thời xa vắng" của Lê Lựu tuy viết về đề tài nông thôn trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước, nhưng đó chỉ là nền hiện thực, từ đó tác giả muốn nói với mọi người phải sống bằng suy nghĩ và tình cảm của chính mình, không được sống theo suy nghĩ của người khác, sống bằng con đường được vạch sẵn của người khác.

Tiểu thuyết "Phố" của Chu Lai thì viết về đời sống của người thành phố. Qua đó, gióng tiếng chuông cảnh tỉnh về khả năng đổ vỡ của những giá trị bền vững trước cơn bão ngầm của cơ chế thị trường, nếu mọi người không tỉnh táo đề phòng và có biện pháp chống đỡ.

Tiểu thuyết "Mảnh đất lắm người nhiều ma" của Nguyễn Khắc Trường viết về cuộc cạnh tranh giành giật quyền lợi giữa các dòng họ dù bên ngoài vẫn được che đậy kín đáo bằng những nguyên tắc của tổ chức và những điều tốt đẹp. Điều đó thể hiện cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác luôn sóng đôi trong hành trình của xã hội loài người...

Như vậy, đề tài của tác phẩm chỉ là phương tiện, là nền tảng để xây nên những ý tưởng chính trị, quan điểm thẩm mỹ của nhà văn. Nhưng không có hiện thực thì mọi ý tưởng, quan niệm sẽ bị tan vụn ngay từ đầu, bởi nó không hình thành hình hài thì sao có thể thành người mà có ý tưởng.

Không quá coi trọng đề tài, nhưng cũng không được coi thường nó, bởi đó là nền để xây những ý tưởng. Ý tưởng dù cao siêu đến đâu cũng phải hình thành, toát ra từ một sự vật sự việc nhất định. Ngay thơ trữ tình cũng vậy thôi, tất cả những cảm xúc, rung động của tâm hồn đều phải nhờ hình ảnh, chất liệu để thể hiện. Muốn ý tưởng được mọi người thừa nhận thì những hình ảnh, chất liệu phải hợp lý, tức là bức tranh hiện thực phải chân thực.

Thơ Nguyễn Bính hầu hết lấy chất liệu từ người nhà quê và làng quê mà vẫn rung động tâm hồn của tầng lớp thị dân, trí thức thành thị. Hay thơ văn từ các mặt trận trong kháng chiến chống Mỹ chuyển về làm xúc động bao trái tim ở hậu phương từ thành thị đến nông thôn thì đâu phải chỉ vì tình cảm của hậu phương với tiền tuyến, mà chính còn vì những chất liệu chân thực.

Đề tài, tự nó không làm nên giá trị của tác phẩm. Có thể trong một hoàn cảnh nào đó, vì mục đích này khác mà có đề tài được chú ý, được đề cao, nhưng sẽ không có giá trị bền vững. Đến đề tài muôn thuở như tình yêu hay số phận con người thì cũng có biết bao tác phẩm viết về nó mà nông cạn nhạt nhẽo đã bị thời gian thải loại. Văn học nghệ thuật chỉ chấp nhận những giá trị riêng độc đáo và phải sâu sắc, hoàn mỹ. Vì thế trong sáng tạo văn học nghệ thuật không nên chạy theo bất cứ cái gì.

Phải tự mình khẳng định mình giữa đất bằng trống trải cũng như giữa đại ngàn đầy cổ thụ một dáng vẻ riêng, một sắc màu riêng, một hương thơm riêng. Đề tài có thể để phân chia nhưng không thể để xếp loại. Đã là nhà văn thì phải tựa vào chính sức mình, tức là tài năng, và tài năng ấy phải thường xuyên được bồi đắp.

2. Chất lượng nghệ thuật

Từ xưa, trong cuộc sống, ông cha ta đã coi trọng chất lượng, thể hiện qua các câu tục ngữ: "Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh", "Một nghề chín, hơn chín mười nghề"... Nghệ thuật là cái đẹp, là tinh túy của cuộc sống, nên nó càng đòi hỏi chất lượng cao. Giở lại một cuốn "Sổ tay văn học" thời mình còn là sinh viên, tôi ghi ở trang đầu câu nói của một danh nhân nước ngoài: "Văn học xuất phát từ những định luật của vô cùng. Chỉ một mình nó không công nhận cái chết". Ôi, đúng là một thời bồng bột khi đứng ở ngưỡng cửa của văn chương nên thích những lời to tát.

Chẳng có gì xuất phát từ định luật của vô cùng cả, mà chỉ có những lĩnh vực đi từ sự vật, sự việc cụ thể để đến với vô cùng mà thôi! Và chẳng có một lĩnh vực nào tự nó đã bất tử, mà sự bất tử có ở tất cả các lĩnh vực, khi nó đạt đến đỉnh cao của vô cùng. Văn chương nghệ thuật là một lĩnh vực của cuộc sống, nó cũng mang đầy đủ những đặc điểm như mọi lĩnh vực khác.

Kho tàng văn chương dân gian và văn chương bác học của dân tộc, mà chúng ta biết được còn lại không quá đồ sộ thì chắc chắn thời gian đã xóa đi một số lượng ít nhất phải gấp hàng mấy chục lần như thế. Mấy trăm bài thơ của phong trào Thơ Mới còn lại trong "Thi nhân Việt Nam", sau khi Hoài Thanh và Hoài Chân đã loại đi một vạn bài mà các ông được đọc. Tức là lịch sử văn chương chỉ giữ lại khoảng 1% số sáng tác mà thôi.

Biết được điều này, các nhà văn nhà thơ sẽ cẩn trọng và nghiêm túc hơn trong quá trình sáng tác của mình, làm sao phải có được những sáng tác hay, những tác phẩm có chất lượng. Còn làm thế nào để có được tác phẩm hay, thì nhiều nhà thơ, nhà văn nói rằng câu hỏi ấy không thể trả lời được.

Riêng nhà văn Đình Kính tác giả của tiểu thuyết "Sóng chìm" thì trả lời rằng, đó là: Tài năng, tài năng và tài năng. Thực ra, hai cách trả lời đó cũng chỉ là một, và đều còn là một sự bí ẩn. Nhưng danh nhân Trương Triều (đời Thanh - Trung Quốc) là tác giả của tập cách ngôn "U mộng ảnh" nổi tiếng, viết một câu mà tôi cho là chân lý: "Văn chương tuyệt đỉnh cổ kim đều được viết bằng máu và nước mắt". "Truyện Kiều", "Chinh phụ ngâm", "Nhật ký trong tù"... có thể là minh chứng.

Lịch sử văn chương nhân loại từ cổ chí kim rất ít tác giả để lại cho đời được một khối lượng đồ sộ tác phẩm có giá trị cao. Họa chăng chỉ là những thiên tài! Mà thiên tài thì phải hàng trăm năm mới có. Tầm cỡ như Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, thì đất nước hơn một tỉ dân như Trung Quốc, mấy chục năm nay nào có được ai? Ở Việt Nam, thì tầm cỡ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du... mười thế kỷ văn chương bác học, cố tính cũng chỉ được mươi người.

Còn phần lớn là các tác giả có số lượng sáng tác đồ sộ, nhưng chất lượng thì cũng chỉ có được một hai tác phẩm. Tâm trạng hoảng hốt của thi sĩ Xuân Diệu khi tuổi đã cao nhìn lại những sáng tác của mình, không biết có gì còn lại với đời là một tâm trạng thực, cũng đáng trân trọng. Đó là một người tinh tường và biết sợ.

Khi còn ở thời kỳ sáng tác sung sức, thi sĩ cũng đã phải thốt lên: "Thơ ơi, quặng thải bao lần/ Biết bao giờ mới ra vần kim cương!". Một tài năng lớn như Xuân Diệu, một tài năng mà khi ông ra đi, báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam đã viết: "Một cây lớn nằm xuống, cả khoảng rừng trống vắng" mà vẫn còn trăn trở đến như thế về chất lượng nghệ thuật, thật đáng là bài học cho mỗi người cầm bút.

Vì thế, những sáng tác văn học nghệ thuật hay là rất hiếm và rất quý. Một bài thơ hay có thể đánh đổ hàng vạn bài, vì nếu tác phẩm không hay thì chẳng là gì cả. Đây phải là điều tâm niệm của mỗi người cầm bút. Làm sao để cả đời có thể viết được một tác phẩm hay. Mỗi tác phẩm hay là một hạt kim cương, mỗi nhà văn có một tác phẩm hay thì nền văn chương nước nhà sẽ có một kho kim cương đồ sộ. Nhưng những viên kim cương có hình dáng và màu sắc rất khác nhau.

Có khi là một khối trong suốt như "Truyện Kiều", có khi lại là những hạt vụn lẻ tưởng gần với hoang dã như thơ của Hồ Xuân Hương, có khi chỉ vài ba hạt thăm thẳm như "Thu vịnh", "Thu ẩm", "Thu điếu" của Nguyễn Khuyến, hoặc những chùm hạt có màu sắc khác nhau được gom lại trong "Thi nhân Việt Nam"...

Có điều, không ai có thể cố tình sản xuất mà thành kim cương cả. Kim cương đó là những hạt tự nhiên, do sự kết tinh của những chất đặc biệt trong một hoàn cảnh và điều kiện đặc biệt. Nhưng khi biết được hoàn cảnh và điều kiện có thể nảy sinh kim cương, thì ta có thể tạo dựng điều kiện, hoàn cảnh và chờ đón. Điều kiện và hoàn cảnh thuận tiện càng dồi dào thì khả năng nảy sinh kim cương sẽ càng cao.

Tác phẩm đỉnh cao ư? Nó chỉ có thể ra đời theo đúng quy luật đó. Vì vậy, muốn có được những tác phẩm đỉnh cao thì phải tạo dựng môi trường cho nó xuất hiện, chứ đừng dông dài những chuyện không đâu

28-7-2009

Đ.Q.T.
.
.
.