Mùa đông Hà Nội đã đâu đấy...
Tôi nhớ mùa đông Hà Nội quá
Hoa sữa tương tư mấy nẻo về
Nụ cười em giấu sau lưng lá
Tôi tìm... bắt gặp nỗi xa quêNhớ lặng thầm thôi không dám gọi
Sợ làm tóc mẹ giật mình rơi
Bao nhiêu sợi trắng dâng như khói
Thảng mặt Hồ Gươm lạnh bốc hơiLy kem Thủy Tạ mười năm trước
Còn mãi thơm tho đến tận giờ
Tôi đứng bên kia cầu Thê Húc
Nhìn áo em hồng nắng lấp lơ...Tôi thương Hà Nội mùa đông quá
Cây sấu già nua vỏ mốc meo
Phải lo mẹ rét nên bao lá
Gom hết mùa đông - bếp lửa chiềuĐể sớm mai này khi xuống phố
Sài Gòn bất chợt gặp heo may
Tôi nhớ vô cùng em với mẹ
Mùa đông Hà Nội đã đâu đây...
Thật phải triệu lần bái phục và biết ơn các cụ tổ ta đã quá anh minh mà chọn tìm được một nơi đế đô có giao thông thuận tiện, khí hậu ôn hòa, có thiên nhiên rõ rệt bốn mùa. Ai đã từng đặt chân tới đây, dù chỉ một lần trong đời, hẳn không thể không đem theo về ít nhiều nhung nhớ, huống hồ như trường hợp của Trương Nam Hương, Hà Nội với anh là cả một thời thơ cắp sách tới trường. "Dù có đi bốn phương trời/ Lòng vẫn nhớ về Hà Nội" - cư ngụ và làm việc tại Sài Gòn, mỗi lần về thăm lại Hà Nội là một lần trong anh tràn ngập cảm xúc. Bài thơ "Nhớ mùa đông Hà Nội" anh sáng tác cuối đông 1988 là kết quả của sự "dồn nén" ấy.
Thú thật, tác giả mở đầu bài thơ bằng một câu mới "chạm" vào tôi đã phải rụt lại, rồi cứ thế mà... xuýt xoa. Không, không phải vì tác giả nói đụng đến mùa đông mà tôi thấy "lạnh" đâu. "Tôi nhớ mùa đông Hà Nội quá". Tôi "rụt" lại vì chữ "nhớ", chữ "quá" ấy. Và cũng xuýt xoa vì hai chữ ấy (nói chung thơ ca nên tránh để lộ ý như thế). Chữ dùng "vụng" nên câu thơ mở bài có thể ví như một cánh cửa tuềnh toàng, giá mở ra mà bên trong lại "thông thống" thì ngán cho bài thơ lắm. May thay, kề ngay đấy là một câu thơ đầy hương sắc. Gì chứ cái "hoa sữa tương tư" ấy rõ ràng không những ám ảnh tác giả "suốt" nẻo về" mà còn để lại dư vị đến tận kết bài: "Hoa sữa tương tư mấy nẻo về/ Nụ cười em giấu sau lưng lá/ Tôi tìm bắt gặp nỗi xa quê".
Trương Nam Hương là một nhà thơ tài hoa, chữ nghĩa anh dùng có phần "tung hứng" - nhiều khi, như một động tác ảo thuật, thật khó nắm bắt được chắc ý tưởng của anh (tuy ở từng câu, chữ nghĩa vẫn "có vẻ" rõ ràng). Tưởng như tất cả là phỏng đoán. Đọc hai câu thơ: "Nhớ lặng thầm thôi không dám gọi/ Sợ làm tóc mẹ giật mình rơi", bao câu hỏi phải đặt ra. Tại sao lại "tóc mẹ" ở đây, và từ đâu tóc mẹ rơi xuống thế này? Đến hai câu tiếp đó: "Bao nhiêu sợi trắng dâng như khói/ Thảng mặt Hồ Gươm lạnh bốc hơi", ta mới vỡ lẽ rằng: Tóc mẹ được tác giả liên hệ như những làn hơi trắng muôn ngàn sợi bốc lên từ mặt Hồ Gươm lạnh giá. Tác giả có thể liên tưởng như thế bởi khi ấy, mẹ anh đã ở cõi cao xa đâu đó trên trời rồi.
"Đi về này những lối này năm xưa"- bước chân hồi tưởng bao giờ cũng lặng trầm. Trương Nam Hương đã học được cách "đi về" của cổ nhân, anh không làm ồn. Không làm ồn nhưng trong "túi thi ca" của anh bao giờ cũng sẵn hàng nắm ngôn từ anh hào phóng tung ra thu gọi những con chim ký ức bay về: "Ly kem Thủy Tạ mười năm trước/ Còn mãi thơm tho đến tận giờ/ Tôi đứng bên kia cầu Thê Húc".
"Bên kia"- tác giả chọn cho mình khoảng cách cần thiết chiêm ngưỡng... Và vì "bên kia" nên khi nhìn sang, áo em mới lấp lơ hồng trong nắng. Chữ "lấp lơ" tôi cho dùng ở đây rất đắt. Nó là "lấp lơ", thế thôi, không phải lấp lửng, càng không phải lấp lơ lấp lửng. Cứ "nửa vời" kỳ ảo thế, mà lại kiêu sa nữa. Con mắt nhà thơ quả là tinh tế khi chụp được hình ảnh thiếu nữ và phong cảnh như vậy. Anh đã biết chỉnh ánh sáng và biết chọn kiểu dáng. Lại nhớ, trong bài "Cảm nhận chiều Đà Lạt", Trương Nam Hương từng có hai câu bừng sáng cả bài:
Dây dưa nắng bên hồ không nỡ tắt
Người kiêu sa vạt áo quét ngang chiều
Cảm ơn nhà thơ đã lưu lại cho chúng ta những "khoảnh khắc" tuyệt vời của nét đẹp con người gắn liền với vẻ đẹp thiên nhiên.
Lẽ thường, nếu đơn thuần chỉ là một du khách thôi, người ta dễ dừng lại ở cái nhìn bề nổi của cảnh quan. Từ bề nổi cảnh quan đến bề sâu đời sống lại phải là người từng gắn bó tình cảm mật thiết với địa dư đó. Tác giả đáng quý ở chỗ - anh đã đưa được những điều ấy vào xen kẽ giữa bài thơ. Nếu mở đầu khổ 1 anh từng viết: "Tôi nhớ mùa đông Hà Nội quá", thì mở đầu khổ 4, vẻ "lãng mạn" ấy đã nhường chỗ cho nét "hiện thực" qua sự đảo ngữ nhỏ: "Tôi thương Hà Nội mùa đông quá". Tác giả dồn tình cảm của mình về phía cỏ cây như là chúng đã biết hy sinh phụng sự con người: "Cây sấu già nua vỏ mốc meo/ Phải lo mẹ rét nên bao lá/ Gom hết mùa đông - bếp lửa chiều...".
Trước đây, tôi có được đọc một bài thơ của nhà thơ quá cố Hoàng Trung Thông, tên gọi "Quét lá", cũng nói về hình tượng cây sấu này. Với 4 câu kết bài, nhà thơ đã chỉ ra một nghịch lý: "Ôi tôi ngồi làm thơ/ Sấu chín nhìn vui sướng/ Có biết ai mong chờ/ Lá sấu vàng rụng xuống". Bằng trái tim biết đồng cảm, sẻ chia, Trương Nam Hương đã phần nào xóa đi được nghịch lý kia.
Như trên đã nói, tác giả "Nhớ mùa đông Hà Nội" hiện sống và làm việc tại Sài Gòn. Thành phố này khác biệt với thủ đô của chúng ta ở chỗ gần như nó không có cái rét đến tím da buốt thịt, bởi thế mà chỉ thoáng chút heo may, người ta đã xao xuyến nhớ về thành phố một thời thơ của mình. Đó cũng là tâm trạng phổ biến của những người xa đất Bắc. Nói như Vũ Bằng - trong "Miếng ngon Hà Nội": "Khi khoảng năm tàn tháng hết, trời chợt hơi trở lạnh, người xa nhà đột nhiên thấy trống trải trong lòng...thấy tiếc nhớ một cái gì"
