Bàn thêm về “hậu hiện đại” ở Việt Nam

Thứ Bảy, 23/09/2017, 08:02
Khái niệm hậu hiện đại ra đời trong lòng các nước tư bản phát triển những năm giữa thế kỷ XX, nở rộ vào những năm cuối thế kỷ. Nó có cơ sở xã hội và ý thức là khi xã hội bước vào thời kỳ hậu công nghiệp, văn minh tin học bùng nổ, internet kết nối toàn cầu, chủ nghĩa kỹ trị lên ngôi... từ đó dẫn tới khủng hoảng niềm tin, con người hoài nghi cả Thượng đế. 

Dần dần, một số nhà nghiên cứu khái quát thành lý thuyết với quan niệm về con người dị thường, ảo giác hoá, con người sống trong hoài nghi, hư vô, bi quan, phi lý... Tương ứng với quan niệm này là cả một hệ thi pháp hậu hiện đại, như chủ đề phi trung tâm, không bản chất, sáng tác ngẫu hứng, lắp ghép, phân mảnh...

Hình tượng mang tính phi lý. Tình tiết chồng chéo. Ngôn ngữ là một trò chơi… Một nhà nghiên cứu nước ngoài nhận xét, có thể là cực đoan nhưng phần nào giúp bạn đọc hình dung rõ hơn về mặt hình thức của hậu hiện đại: Một tác giả cầm cái bình pha lê đập mạnh xuống sàn gạch, mảnh vỡ tung toé! Đấy là “sáng tác” hậu hiện đại.

Hậu hiện đại không phải là một “thành tựu” như có nhà nghiên cứu ở ta đề cao mà chỉ là một đặc điểm của văn học phương Tây hiện đại. Đó là một thế giới đa cực, phi trung tâm, bế tắc, mất phương hướng nên tất nhiên dẫn tới quan niệm “cái chết của chủ thể”, “cái chết của hiện thực”, “cái chết của đại tự sự” (vì phân mảnh mất rồi), “cái chết của văn học”... Do vậy hậu hiện đại hay đi vào những “dị biệt” với điên dại, hoang tưởng, vô thức, dục tính, đồng tính, trầm cảm, tự hành xác...

Đóng góp của hậu hiện đại chỉ nên tiếp thu những thành quả nghệ thuật như thủ pháp giễu nhại, phi tuyến tính hóa không gian, thời gian, lối trần thuật ghép mảnh... tạo cho văn bản tính chất đa điểm nhìn, nhiều tầng nghĩa... Nhưng nghệ thuật như một sinh mệnh thống nhất hữu cơ nội dung và hình thức, tiếp thu hình thức cũng đã bao hàm tính nội dung rồi. Điều này lý giải có những văn bản mới mẻ về hình thức nhưng lại mang một nội dung thiếu lành mạnh. Do vậy mà càng phải hết sức thận trọng.

Một trong số những cuốn sách viết theo khuynh hướng "giải thiêng".

Xin trích ra một đoạn văn hậu hiện đại: “Úi a… sao mà nhức nhối ui… Còn mình thì đếk bít dòng rõi dòng rọc nhà lào chỉ biết nhà mình trồng thuốc lào cái rằng là quê iem ở Tiên Lãng, Hải Phòng, ơi, mịa mấy lâu mọi người vẫn đố nhau xem thành phố tỉnh thành lào là mạnh về cái khoản ấy nhất cho nên chúng nó lục tìm trong các bài hát tìm hỉu thế là thằng Hà Nội thủ đô oách nhất, tự nhận là mình kinh nhất với dẫn chứng “kìa nòng pháo vẫn vươn lên trời cao” ui chao thế cũng là oách lắm roài đủ sung sướng cho chị em lắm cơ” (3.3.3.9 [Những mảnh hồn trần]).

Một đoạn văn nhại, giễu, phản cú pháp, lắp ghép… rất “hậu hiện đại” phù hợp với tính “giải thiêng”. Không phủ nhận khuynh hướng này đã làm “lạ hóa” (nhưng có thể chưa mới) thêm sắc màu của bức tranh văn học, trên thực tế có những tác phẩm gây tranh luận, hấp dẫn độc giả. Nhưng đến hôm nay nhìn lại, quả là “hậu hiện đại” lợi có mà dở cũng nhiều. Và không chỉ có một “hậu hiện đại”, rồi còn “hậu-hậu hiện đại”, lại “hậu thực dân”…, liệu có được ứng dụng? Ý của chúng tôi là chúng ta tiếp thu thành quả văn hóa nhân loại nhưng phải chọn lọc cái tiến bộ phù hợp với văn hóa Việt, tính cách Việt.

Giải thiêng là một nội dung cơ bản của khuynh hướng hậu hiện đại.

“Giải thiêng” gắn liền với nhu cầu nhận thức lại, vấn đề là nhận thức lại cái gì. Nếu đáng “giải thiêng” thì phải “giải thiêng” chứ không thể nói ngược, xóa bỏ tính thiêng của thần tượng đã được lịch sử khẳng định. Gần đây có một vài văn nghệ sĩ có dụng ý không hay là “hạ bệ” Anh hùng Võ Thị Sáu, một biểu tượng mà ngay kẻ thù là thực dân Pháp và tay sai cũng phải kiêng nể. Thế là “nói ngược” để gây chú ý. 

Mấy năm trước rộ lên “phong trào” viết về Cải cách ruộng đất, nhất là trong tiểu thuyết. Cái đáng bàn là lẽ ra phải phân tích cái được cái mất, cái hạn chế, cái tích cực, bài học và ý nghĩa lịch sử, ý nghĩa nhân văn… thì có tác giả lại thích thú đi sâu vào cái sai lầm, cái bi, tạo ra cảm giác tăm tối về ý nghĩa cách mạng của cuộc Cải cách lịch sử này. 

Trước đó, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã “giải thiêng” Hoàng đế Quang Trung. Xung quanh chuyện này đã tạo ra tranh luận: đọc văn phải khác đọc sử. Sẽ chẳng đi đến đâu nếu không có cái nhìn chung, nhất quán. Quan điểm của chúng tôi là nhà văn có quyền hư cấu nhưng hư cấu trên nền sự thật, nghĩa là Quang Trung là anh hùng thì hư cấu không phải theo kiểu “ba thực bảy hư” hoặc “nửa nọ nửa kia” mà có thể tới 90% hoặc hơn, nhưng vẫn phải để người đọc thấy đó là anh hùng Quang Trung. 

Ngược lại, hư cấu ít mà lại “giải thiêng” làm méo mó thần tượng thì cũng là đáng trách. Trường hợp Nguyễn Huy Thiệp là như vậy, dĩ nhiên ta vẫn khẳng định ông là nhà văn lớn. Gần đây hơn, Nguyễn Quang Thân trong “Hội thề” cũng đi vào “lối mòn” cũ khi xây dựng thần tượng Lê Lợi với những “tiểu khí” nhỏ nhen, thô lỗ, cuồng sát… còn Nguyễn Trãi lại quá yếu đuối, nhu nhược. Trong khi đó, tướng giặc xâm lược lại có vẻ nghĩa hiệp và hào hiệp… Thật không đúng với lịch sử! Tác dụng giáo dục của văn chương liệu có còn khi có những chi tiết như thế trong văn học.

Bi kịch lịch sử luôn là đề tài hấp dẫn, mời gọi những cách lý giải mới, nhưng không nên “nói khác” lịch sử. Gần đây hình tượng Anh hùng Nguyễn Trãi cùng vụ án Lệ Chi viên hay được khai thác. Tiếc rằng có tác giả mải mê theo môtip “giải thiêng” làm méo mó hình ảnh thần tượng. Đó là trường hợp “Vạn Xuân” (của Yveline – nữ văn sĩ Pháp) miêu tả Nguyễn Trãi làm tình rất bản năng với một gái làng chơi. 

Bản năng tính dục thì ai cũng có, nên có thể hư cấu nhưng với “gái làng chơi” là khó chấp nhận, lại theo kiểu “hùng hổ” như “xé xác một con chim non” thì quả không đúng với con người Nguyễn Trãi đại nhân, đại trí với tầm văn hóa đi trước thời đại. Tương tự, tác giả Nguyễn Thúy Ái trong “Trở về Lệ Chi viên” miêu tả một Nguyễn Trãi tầm thường với chuyện giường chiếu, một Thị Lộ xảo quyệt, đầy ham hố dục tính, lăng nhăng… thì là những chuyện “phản lịch sử”.

Có thể thấy, nguyên nhân những sai sót trên là thuộc về quan niệm chứ không phải kỹ thuật hay tri thức. Sẽ là khoa học, là chân lý và công lý như chỉ “giải thiêng” những nhân vật lịch sử nào bị nhìn nhận sai lệch, bản chất là xấu nhưng lại được đánh giá là tốt, rồi vạch ra công tội rõ ràng. Hẳn nhiên văn học khác sử học, một là nghệ thuật hình tượng, một là số liệu, dữ liệu. Nhưng giữa văn và sử có một nét chung, văn học là khoa học về con người, mà lịch sử, xét đến cùng cũng là con người. Làm méo mó lịch sử, tức là làm méo mó con người, và ngược lại!

Chúng ta đã và đang tiếp thu các lý thuyết nước ngoài hiện đại, phù hợp để làm giàu có thêm gia tài văn hóa với Thi pháp học, Tự sự học, Phê bình văn hóa, Phê bình sinh thái, Phê bình nữ quyền… Do tương thích với cơ sở xã hội và văn học mà có khuynh hướng đã góp phần tạo ra những dấu ấn mới mẻ, tích cực ở cả sáng tác và nghiên cứu. Nhưng cũng có những khuynh hướng không lành mạnh, thiếu kiểm chứng chặt chẽ mà tạo ra những hiệu ứng không như mong đợi. 

Bên cạnh việc tiếp thu lý luận văn nghệ nước ngoài, cơ bản hơn cần có chiến lược nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa, phát triển lý luận văn nghệ của cha ông. Xin nhắc lại lời Bác Hồ, sáng suốt, sâu sắc, tinh tế vô cùng: “Muốn thấy hết cái hay, cái đẹp của nghệ thuật dân tộc ta, thì phải đừng bị trói buộc bởi những tiêu chuẩn này nọ của nghệ thuật phương Tây… phải dựa trên tiêu chuẩn của ta. Tiêu chuẩn ấy là gì? Đó là nền mỹ học ẩn chứa trong thực tiễn truyền thống nghệ thuật dân gian, dân tộc” (“Khơi nguồn mĩ học dân tộc”. Nxb Chính trị quốc gia, 2004, tr. 8-9). Chúng ta đang cố gắng làm giàu thêm lý luận văn học nghệ thuật bằng cách tiếp thu cái hợp lý của lý luận nước ngoài. Đấy là một hướng đi đúng. Nhưng thiết nghĩ, song hành với hướng đó và cơ bản hơn là phải đi sâu vào vốn cổ của ta để tìm tinh hoa lý luận truyền thống cha ông mà kế thừa, phát triển, nâng cao cho phù hợp với hôm nay.

Chỉ xin đề cập tới một Nguyễn Trãi đã thấy ở nhà tư tưởng lớn này cũng có hẳn một hệ mỹ học riêng với: Tư tưởng mỹ học về con người văn hóa; về thiên nhiên; về phạm trù cái đẹp; một quan niệm sứ mệnh nghệ thuật vì con người; quan niệm hiện đại về quy luật vận động đặc thù của nghệ thuật; một mỹ học chủ thể; một mỹ học tiếp nhận. Không chỉ ở Nguyễn Trãi mà còn cả một kho tàng mỹ học mà cha ông đã học tập, tiếp thu, kế thừa, kết tinh, phát triển và nâng cao một cách tuyệt vời mỹ học truyền thống, thể hiện tinh tế trong trước tác. Đó là cả một mỏ vàng mà hậu thế chúng ta phải tìm tòi, khai thác, tinh luyện. 

Truyền thống lý luận của ta, ngoài những hiển ngôn trên văn bản còn thường thể hiện dưới dạng tác phẩm, mà ngay ở thời hiện đại cũng có, ví như câu thơ hay của Phạm Tiến Duật: “Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng/ Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay”. Phải chăng còn có ý về chủ thể sáng tạo: nghệ sỹ phải quên mình, làm mới mình để sáng tạo. Tác phẩm nghệ thuật phải có chức năng làm đẹp và nuôi dưỡng sự sống…?!

Nguyễn Thanh
.
.
.