Hé lộ bức màn bí ẩn vụ 346 đối tượng Việt Nam sang Campuchia làm việc cho tổ chức tội phạm

Thứ Bảy, 18/04/2026, 15:23

Cục Cảnh sát hình sự và Công an các đơn vị, địa phương liên quan đã làm tốt công tác phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm lừa đảo trực tuyến “di cư” từ Campuchia về Việt Nam, sau khi cơ quan chức năng nước bạn đẩy mạnh truy quét; tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và lực lượng CAND.

Ngày 18/4, Cục Cảnh sát hình sự thông tin vụ án liên quan đến 346 công dân Việt Nam bị trục xuất từ khu lừa đảo trực tuyến bên Campuchia, địa chỉ tòa nhà D3, làng Ou Ampil, xã Toul Pongro, huyện Malai, tỉnh Banteay Meanchey qua Cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, tỉnh Tây Ninh.

Sang Campuchia làm “việc nhẹ, lương cao”

Thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Công an trong công tác chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm liên quan đến công dân Việt Nam “di cư” từ các khu hoạt động lừa đảo trực tuyến sau khi bị Cơ quan chức năng Campuchia truy quét, trục xuất về Việt Nam, Trung tướng Trần Ngọc Hà, Cục trưởng Cục Cảnh sát hình sự giao nhiệm vụ cho Đại tá Nguyễn Thanh Hà, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát hình sự trực tiếp cùng tổ công tác Phòng 3 vào tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai phối hợp với Công an các tỉnh có đường biên, cửa khẩu giáp Campuchia để tiếp nhận, sàng lọc, phân loại số công dân bị Campuchia trục xuất về nước.

Ngày 17/3, Cục Cảnh sát hình sự phối hợp với Công an các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai; Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai và Công an các địa phương tiếp nhận, phân loại 801 công dân Việt Nam bị Cơ quan chức năng Vương quốc Campuchia trục xuất về nước qua Cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Cửa khẩu quốc tế Hoa Lư, tỉnh Đồng Nai , theo đề nghị của Tổng Lãnh sự quán Việt Nam, ở Battambang- Campuchia.

Tại Cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, Cục Cảnh sát hình sự đã tiếp nhận 457 đối tượng người Việt Nam và qua phân loại đã phát hiện có 346 người làm việc tại tòa nhà D3 (làng Ou Ampil, xã Toul Pongro, huyện Malai, tỉnh Banteay Meanchey, Campuchia) có dấu hiệu làm việc cho một tổ chức tội phạm quy mô lớn.

Tổ chức nêu trên do đối tượng người Trung Quốc có tên thường gọi là “Gấu” cầm đầu, hoạt động xuyên quốc gia, sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của nhiều bị hại trên khắp cả nước, ngoài ra còn có bị hại là người nước ngoài, số tiền bị chiếm đoạt đặc biệt lớn.

Ngày 26/3, Đại tá Lê Khắc Sơn, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát hình sự, Phó Thủ trưởng CSĐT Bộ Công an đã ký  Quyết định khởi tố vụ án “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Thái Nguyên và các địa phương trên cả nước và chỉ đạo công tác điều tra, làm rõ các dấu hiệu tội phạm, xử lý theo quy định của pháp luật.

Qúa trình điều tra, Cơ quan CSĐT Bộ Công an xác định, đối tượng “Gấu”, là chủ điều hành công ty lừa đảo bên Campuchia, tại toà nhà D3. Còn một người đàn ông Trung Quốc khác có tên Xẻo Xuyến (gọi là “Mắt Bầm”) giữ vai trò cấp dưới (giám đốc) chỉ đạo, điều hành hoạt động toàn bộ hệ thống và cung cấp các trang thiết bị như máy tính để bàn, điện thoại có kết nối mạng Internet, bố trí chỗ ăn, ở cho nhân viên toà nhà D3. 

Dưới 2 đối tượng “Gấu” và “Mắt Bầm” là 8 chủ quản, quản lý 27 tổ trưởng và các tổ phó. Mỗi tổ trưởng quản lý từ 8 - 10 nhân viên. Chủ điều hành người đàn ông gọi là “Gấu” cung cấp tạo các trang web và các App (ứng dụng) mạo danh các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới về thời trang, mỹ phẩm, trang sức rồi giao cho các tổ trưởng các phòng giao lại cho nhân viên sử dụng để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị hại.

Trong các chủ quản, có 2 đối tượng người Việt Nam là Trần Anh Vương và Nguyễn Quốc Khánh. Theo các đối tượng khai nhận, mỗi chủ quản được phân công quản lý trực tiếp từ 1-2 phòng làm việc trong tòa nhà D3, có quyền quản lý, kiểm tra, giám sát, đốc thúc, hỗ trợ nhân viên trong các phòng làm việc thực hiện công việc hiệu quả, đạt được doanh thu đã đề ra trong tháng. Chủ quản có trách nhiệm báo cáo kết quả làm việc của các phòng, các vị trí cho chủ điều hành biết. Lương chủ quản được tính theo % tổng số tiền mà các phòng do chủ quản đó quản lý chiếm đoạt được.

Đối với Bộ phận nhân sự của công ty (gồm có 23 đối tượng người Việt Nam, trong đó có 2 tổ trưởng là đối tượng Trương Thanh Sĩ và Linh Văn Hoàng), đối tượng “Gấu” giao nhiệm vụ vào các hội nhóm tìm việc làm trên nền tảng mạng xã hội Facebook, Tiktok, Telegram đăng bài tuyển dụng với nội dung như: Tuyển nhân viên làm tại các sòng bài, quán Karaoke, phụ bếp, phục vụ nhà hàng… thu nhập từ 15-25 triệu đồng/tháng, nhắm tới các đối tượng là người trẻ ở Việt Nam mong muốn tìm “việc nhẹ, lương cao”. Ngoài ra một số bài tuyển dụng nhắm đến những người đang nợ nần cần bán “Xoài giá cao” (tức là bán thận) để lấy tiền trả nợ nhằm tuyển nhân viên mới cho công ty.

Với lời chào mời ngọt ngào “việc nhẹ, lương cao”, đã có nhiều người Việt Nam đủ mọi thành phần, lứa tuổi đa số nghề nghiệp tự do đã đồng ý sang Campuchia  làm việc. Lúc này, bộ phận nhân sự sẽ thông báo đến chủ quản hoặc chủ điều hành để chỉ đạo mua vé máy bay, chuẩn bị phương tiện (ô tô, xe mô tô), bố trí người hướng dẫn cách sang Campuchia, dẫn đường để đưa nhân sự mới thông qua đường tiểu ngạch sang Campuchia ký hợp đồng vào làm việc tại công ty trên.

Các nhân sự mới đến công ty làm việc được ký hợp đồng, tháng đầu tiên được nuôi ăn, ở miễn phí, mỗi người phát thẻ (như quẹt thẻ ngân hàng) để mua sắm dịch vụ thiết yếu trong nội khu. Sau đó, học kịch bản (lừa đảo chiếm đoạt tài sản các nạn nhân). Mức lương cứng từ 300 USD/người/tháng. Ngoài ra, nhân viên ở bộ phận nhân sự nếu tuyển được 1 người vào công ty sẽ được thưởng 200 USD/người; nhân viên ở các bộ phận khác (Sale, IT, telephone…) được chia 8-15% từ số tiền chiếm đoạt được của người bị hại; tổ trưởng, tổ phó cũng được chia từ 1-3% tổng số tiền của tổ đó chiếm đoạt được của người bị hại.

Thủ đoạn “giăng bẫy” nạn nhân

Các đối tượng dùng máy vi tính, điện thoại di động có kết nối mạng internet để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng với phương thức, thủ đoạn hết sức tinh vi (qua 4 bước) khiến gần 5.000 nạn nhân “sập bẫy”, chiếm đoạt số tiền trên 130 tỷ đồng.

Thủ đoạn đầu tiên, các đối tượng tìm kiếm khách hàng tiềm năng trên các ứng dụng, nền tảng mạng xã hội để tiếp cận và xây dựng lòng tin. Theo đó, các đối tượng tự tạo ra các đường link dẫn đến các trang Web giả mạo giống như các trang Web thời trang, mỹ phẩm, trang sức nổi tiếng trên thế giới như: Versace, Kering, Lazada, Zara, Tiffany… hoặc các App game trúng thưởng (Polo, B52…) rồi giao cho các tổ trưởng các phòng để giao lại cho nhân viên của tổ vào các hội nhóm có những người thích hàng hiệu, những người có điều kiện kinh tế… tìm “con mồi”.

Hàng ngày, nhân viên sử dụng máy tính để bàn được công ty cấp có kết nối mạng Internet thực hiện các công việc được tổ trưởng phân công gồm: Ghép ảnh, chỉnh sửa những thông tin trên Facebook (làm ảo). Sau khi đã chuẩn bị được các Facebook ảo, phù hợp với việc tạo ấn tượng ban đầu với bị hại, đối tượng nhắm đến khách hàng tiềm năng và gửi lời mời kết bạn. Hàng ngày đều có chỉ tiêu mỗi nhân viên Sale phải kết bạn được với 5 khách hành trở lên.

Xong công đoạn trên, bọn chúng vào bước 2 - thao túng tình cảm, tâm lý để dẫn dụ nạn nhân cài đặt ứng dụng giả mạo. Sau khi người bị hại chấp nhận kết bạn thì các nhân viên sale trong công ty tiếp tục thực hiện kết nối tâm sự, nhắn tin, gọi điện thể hiện quan tâm, thấu hiểu và có sự đồng cảm…thậm chí có tình cảm yêu đương để thao túng tâm lý người bị hại.

Khi đã có thời gian thấu hiểu, tin tưởng hoặc có tình cảm yêu đương, đối tượng sẽ đánh vào lòng tham của nạn nhân bằng cách tạo ra các tình huống ngẫu nhiên để dẫn dụ nạn nhân vào các trang Web mạo danh hoặc các App giả mạo do chúng tạo ra để nạn nhân nhận thấy việc kiếm tiền của “đối tác” dễ dàng (ví dụ như đang nhắn tin thì có điện thoại, đối tựng nhờ nạn nhân vào “gian hàng” online bán hàng giúp hoặc vào Game trúng thưởng chơi giúp…). Lúc này nạn nhân thấy việc đầu tư rất dễ dàng mà lại được hưởng lãi cao nên sẽ  tham gia.

Khi khách hàng đã ham muốn thì thường sẽ hỏi đối tượng làm thế nào để đầu tư sinh lời, có khó làm hay không và cần yêu cầu gì để khách hàng có thể tham gia? Lúc này đối tượng sẽ trả lời: Việc này dễ thôi, chỉ cần có tài khoản ngân hàng là có thể làm được. Khách hàng đồng ý thì đối tượng sẽ gửi cho khách hàng 1 đường link ảo và yêu cầu đăng nhập vào đường link này. Sau khi đăng nhập thành công thì đối tượng yêu cầu khách bấm nút liên hệ với bộ phận chăm sóc khách hàng để xin thông tin mở gian hàng. Đến giai đoạn này nhân viên sale hết nhiệm vụ. Còn tổ trưởng bắt buộc phải duy trì trò chuyện với khách hàng mỗi ngày để tiếp tục dẫn dụ khách.

Bộ phận chăm sóc khách hàng sẽ nhắn tin, trò chuyện với khách, dẫn dụ nếu khách muốn đầu tư nạp tiền thì sẽ báo ngay với “chủ quản” phòng cung cấp số tài khoản để khách chuyển tiền đầu tư. Khách hàng nạp tiền lần đầu (theo quy định của công ty tối thiểu là 200 USD) thì sẽ nhận lại được tổng số tiền gốc và lãi là 222 USD (có thể các đối tượng sẽ nhử khách và cho nhận lại ngay cả gốc lẫn lãi).

Tiếp đó, các đối tượng vào bước 3 - đánh vào lòng tham của khách hàng (cho rút một khoản tiền nhỏ từ số lợi nhuận ảo). Khi khách đã tham gia nộp tiền đầu tư lần đầu và ham lãi cao, đối tượng sẽ tiếp tục dẫn dụ và đưa ra 1 bảng VIP (chủ quản đưa) bao gồm số tiền đầu tư và tiền lãi cao tương ứng (đầu tư tiền gốc càng nhiều thì lãi càng cao) để khách hàng lựa chọn cột mốc nạp tiền. Công ty quy định app có 12 cấp độ VIP với các số tiền lãi khác nhau…

Và bước cuối cùng bọn chúng gọi là “Giết khách” (tức là băng đơn): Khi nhận thấy khách hàng đã đầu tư và không còn khả năng tiếp tục nộp tiền đầu tư thêm, hoặc khách hàng phát hiện mình đã bị lừa thì chủ quản sẽ quyết định “giết khách” để chiếm đoạt toàn bộ số tiền của bị hại đã đầu tư trước đó.

Báo CAND sẽ tiếp tục thông tin vụ án đặc biệt nghiêm trọng có số lượng đối tượng lớn nhất từ trước đến nay.

Minh Hiền
.
.
.