Vụ điều 2007-2008 ở Bình Phước: Lo thiếu nguyên liệu để chế biến
Theo số liệu thống kê của ngành NN&PTNT tỉnh Bình Phước, năm 2000 tổng diện tích cây điều trên địa bàn tỉnh là 48.033 ha. Do cao su mất giá, nhiều hộ dân đã chặt cao su để trồng điều nên từ năm 2001, diện tích cây điều ngày càng tăng. Năm 2001 là 69.887ha, năm 2004 là 99.593ha và năm 2005 là 110.447 ha.
Nhờ được áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong việc chọn giống, chăm sóc và cải tạo vườn cây nên từ năm 2000 đến năm 2005, sản lượng và năng suất cây điều đều tăng. Năm 2000, sản lượng điều đạt 19.204 tấn, năng suất bình quân chỉ đạt 0,3 tấn/ha nhưng đến năm 2005, sản lượng đã đạt 110.051 tấn, năng suất bình quân đạt 1,1 tấn/ha.
Khi diện tích, năng suất, sản lượng tăng, cây điều đã trở thành loại cây xoá đói giảm nghèo. Từ cây điều, nhiều hộ dân đã có đời sống kinh tế ổn định, một số hộ đã vươn lên trở thành giàu có. Từ năm 2002 đến 2003 (đặc biệt là năm 2004), tỉnh Bình Phước đã xuất hiện nhiều hình thức kinh doanh hạt điều.
Với qui mô là các nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp, tổ hợp chế biến kinh doanh hạt điều xuất khẩu… chỉ trong năm 2005, toàn tỉnh Bình Phước đã chế biến được 21.352 tấn điều nhân xuất khẩu (trong năm 2000, con số này chỉ là 4.480 tấn).
Sự ra đời nhiều cơ sở chế biến hạt điều xuất khẩu đã góp phần giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động tại các vùng nông thôn, miền núi, mở rộng mối quan hệ chặt chẽ công nông liên minh.
Cuối năm 2005 đầu năm 2006, khi cây cao su tăng giá đột biến, thấy trồng cao su hiệu quả gấp nhiều lần so với trồng điều, nhiều hộ dân đã chặt điều để trồng cao su. Cũng theo số liệu của ngành NN&PTNT tỉnh Bình Phước, diện tích cây điều trên toàn tỉnh vào năm 2006 chỉ còn 87.014 ha, năm 2007 chỉ còn 78.412 ha.
Do việc xuất khẩu hạt điều nhân gặp nhiều khó khăn nên nhiều hộ trồng điều hoặc là chặt cây điều chuyển sang trồng cao su, hoặc để phí vườn điều, không quan tâm chăm sóc. Vì vậy, trong năm 2006 (và kể cả vụ điều 2007) năng suất cây điều giảm nhiều do sâu rầy, thiếu phân bón, mưa sớm và sương muối.
Nếu như năm 2005, sản lượng cây điều đạt trên 110 nghìn tấn, năng suất bình quân đạt 1,1 tấn/ha thì vụ điều năm 2007-2008 này, sản lượng chỉ còn khoảng 60 nghìn tấn, năng suất bình quân chỉ đạt khoảng 0,7 tấn/ha. Cùng với sự mất giá của cây điều, một số doanh nghiệp chế biến hạt điều xuất khẩu đã phá sản hoặc đang trên bờ vực phá sản.
Để tạo việc làm cho công nhân và thu hút lao động dư thừa ở địa phương, cuối năm 2005, lâm trường Bù Đăng (huyện Bù Đăng, Bình Phước) đã vay vốn ngân hàng 2,8 tỷ đồng xây dựng nhà máy chế biến hạt điều xuất khẩu. Chỉ hoạt động được trong một thời gian ngắn do nguồn cung cấp nguyên liệu tại địa bàn không đáp ứng được, hạt điều nhân không xuất khẩu được phải tiêu thụ nội địa, cung cách quản lý thiếu sót, yếu kém… nhà máy phải đóng cửa tuyên bố phá sản.
Hậu quả là hàng trăm công nhân là CB-CNV lâm trường và người địa phương bị mất việc, công nợ chồng chất. Để thu hồi vốn, lãnh đạo lâm trường đã được UBND tỉnh cho phép sang lại mặt bằng, nhà xưởng nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai đến hỏi mua. Hiện vẫn còn 10 doanh nghiệp, nhà máy chuyên thu mua, chế biến hạt điều cỡ lớn, hàng trăm cơ sở chuyên thu mua, gia công chế biến hạt điều ngoài tỉnh…
Vì vậy, nếu ngay từ bây giờ, tỉnh Bình Phước không có những biện pháp quản lý tận gốc thì tình trạng tranh mua tranh bán hạt điều sẽ lại xảy ra, các biểu hiện tiêu cực trong gian lận thương mại có điều kiện xuất hiện và phát triển, gây xáo trộn về thị trường hạt điều thô, bất lợi và thiệt hại cho người trồng điều, làm mất uy tín thương hiệu hạt điều Bình Phước ở trong nước cũng như trên thị trường quốc tế.
Để bảo đảm chỉ tiêu kế hoạch chế biến hạt điều xuất khẩu trong vụ 2007-2008, trước nguy cơ nguồn nguyên liệu tại chỗ khó có thể đáp ứng về lâu dài, các doanh nghiệp chế biến hạt điều cần đầu tư vốn cho dân để mở rộng diện tích, tăng năng suất và sản lượng cây điều.
Trước mắt, thông qua liên doanh cần dự trữ nguyên liệu từ việc chủ động thu mua hạt điều thô từ các nước châu Phi, Mỹ La tinh, Campuchia, các địa phương trong nước để có nguồn nguyên liệu ổn định, phục vụ sản xuất, bảo đảm đời sống, việc làm cho người lao động
