Khai thác quặng sắt cho sản xuất thép ở Việt Nam
Đòi hỏi bức thiết từ thực tiễn
Để chủ động trong sản xuất, góp phần bình ổn giá, ngành Thép không còn cách nào khác là tự tìm nguyên liệu, đi từ thượng nguồn: khai thác và chế biến quặng sắt - thiêu kết - luyện gang - tinh luyện - đúc phôi - cán thép thành phẩm.
Theo kết quả khảo sát, trữ lượng quặng sắt ở nước ta ước tính khoảng trên 1,2 tỷ tấn, chất lượng không cao. Tuy nhiên, nếu biết khai thác và chế biến quặng hợp lý, với nhu cầu từ 4 - 10 triệu tấn/năm hay cao hơn nữa thì trữ lượng trên cũng đảm bảo cho ngành Thép Việt Nam sản xuất ổn định trong khoảng một vài thế kỷ nữa.
Hiện, nhiều doanh nghiệp (DN) trong nước đã đầu tư sản xuất phôi từ quặng và bước đầu đạt được những thành công Tổng chi phí sản xuất 1 tấn phôi từ quặng tốn khoảng từ 6,7 - 7 triệu đồng. Trong khi phôi thép nhập khẩu là 10,5 - 11 triệu đồng/tấn và còn cao hơn nữa.
Trừ Gang thép Thái Nguyên, các DN sản xuất phôi đều đang phải nhập quặng tinh với giá 2.570.000 đ/tấn, 1 tấn quặng tinh khai thác và chế biến trong nước chỉ khoảng 1 - 1,5 triệu đồng. DN được Nhà nước cấp mỏ và cho phép khai thác chi phí còn thấp hơn. Một cán bộ của Thép Đình Vũ, Hải Phòng khẳng định: Nếu được cấp mỏ, quặng được chuyển về đến Hải Phòng cũng chỉ tốn khoảng 400.000đ/tấn.
Thực tế trên cho thấy, nếu có được một quy trình khép kín từ nguồn nguyên liệu trong nước, giá thành sản phẩm sẽ giảm ít nhất 3 triệu đồng/tấn so với giá thị trường hiện tại. Cũng có nghĩa, chi phí cho các dự án xây dựng giảm đi, người dân được hưởng lợi từ nguồn tài nguyên của đất nước.
Điều quan trọng nữa, khi các nhà máy khai thác, chế biến quặng, luyện gang... đi vào hoạt động sẽ giải quyết được công ăn việc làm cho rất nhiều lao động và mang lại nguồn lợi lớn cho đất nước từ thuế...
Những bất cập đặt ra
Theo số liệu điều tra, Việt Nam có 216 điểm mỏ và quặng sắt được đưa vào lưu trữ địa chất. Quặng sắt ở ta phân bổ không đều, nhỏ lẻ, chỉ có 13 mỏ trữ lượng trên 2 triệu tấn. Còn lại rất nhỏ, chỉ có thể khai thác theo kiểu bán chuyên nghiệp hoặc tận thu... Bắt tay vào thực tế, các DN mới thấy vô vàn khó khăn, bất cập. Đi đến đâu, DN đều được trả lời: "mỏ đã có chủ". Tìm hiểu mới rõ, khá nhiều mỏ lớn đều đã được cấp phép cho các dự án nhưng hầu hết các dự án đều chưa triển khai.
Mỏ lớn đã vậy, các mỏ nhỏ cũng đã được cấp cho các DN khai thác làm phụ gia sản xuất xi măng hoặc chế biến xuất khẩu. Gọi là nhỏ nhưng trữ lượng thực cũng đáng phải... xem lại. Ví dụ mỏ Bản Chanh, ở Mường Chiềng, Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình được đánh giá trữ lượng là 240.000 tấn nhưng thực tế là 3.800.000 tấn; mỏ Núi Dương thuộc xã Tân Pheo, cũng ở huyện trên được đánh giá là 440.000 tấn nhưng thực tế là 10 triệu tấn...
Một hiện tượng đáng buồn: Hiện không ít đơn vị đổ xô đi xin chủ quyền mỏ để khai thác. Họ hợp pháp bằng cách lập dự án đầu tư xây dựng các lò luyện gang công suất nhỏ kiểu 20 - 30m3...
Sau khi xin được mỏ, họ chỉ khai thác để bán với lý do đổi than cốc cho Trung Quốc để phục vụ sản xuất. Thế là, các chủ mỏ cứ tự do khai thác và chào mời những nhà kinh doanh quặng sắt nước ngoài (chủ yếu là Trung Quốc) liên doanh khai thác, chế biến để xuất khẩu... Đây là việc làm hết sức lãng phí tài nguyên quốc gia.
Bên cạnh đó, nạn khai thác quặng sắt trái phép diễn ra ngày càng phức tạp. Chỉ có một số mỏ thuộc Công ty Gang thép Thái Nguyên khai thác tương đối bài bản, tuyển và chế biến theo đúng quy trình. Còn lại hầu hết là khai thác theo kiểu "thổ phỉ".
Người ta chỉ lấy những quặng có hàm lượng sắt từ 50% trở lên để bán thô, xuất khẩu thô. Loại dưới 50% bị đào bới đổ đi, thậm chí còn dùng để rải làm đường. Trong khi ở Trung Quốc tận dụng cả những loại quặng chỉ có hàm lượng sắt từ 25% trở lên.
Tại Nghệ An, Thanh Hoá, Hoà Bình, Thái Nguyên... người dân còn tự khai thác quặng để bán. Chính phủ đã có chủ trương cấm xuất khẩu quặng thô. Tuy nhiên, do chưa được quan tâm đúng mức, hiện tượng trên vẫn diễn ra khá phức tạp.
Có thể thấy, công tác quản lý khai thác, chế biến và xuất khẩu quặng sắt, thẩm định các dự án khai thác quặng sắt hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập. Những DN đã có nhà máy sản xuất hoặc các dự án khả thi không được cấp mỏ để khai thác. Nhiều DN chỉ có dự án "treo" thì lại được cấp mỏ để khai thác xuất khẩu. Mỏ được khảo sát đánh giá có trữ lượng thấp nhưng trữ lượng thực tế cao hơn gấp nhiều lần...
Quặng sắt là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, trữ lượng chỉ có hạn lại không thể tái tạo nên cần phải được khai thác, chế biến và sử dụng một cách hợp lý. Có như vậy, ngành công nghiệp sản xuất thép của Việt Nam mới chủ động được trong sản xuất, kinh doanh, phục vụ đắc lực cho tiến trình đổi mới của đất nước
