Hoàn nguyên môi trường trong khai thác than chưa tốt

Chủ Nhật, 16/08/2009, 18:20
Ở một số bãi thải khác, Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam cũng đã thử nghiệm trồng cây xanh phủ xanh "núi chết". Nhiều tỷ đồng đã được đầu tư, song cây chỉ sống lay lắt được vài năm rồi tàn lụi.

Không bàn cãi gì thêm về việc ô nhiễm môi trường do khai thác than tại Quảng Ninh. Điều đáng quan tâm hơn là Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) sẽ làm như thế nào để bảo đảm rằng khai thác khoáng sản phải gắn liền với việc bảo vệ, hoàn nguyên, tái tạo môi trường đúng như cam kết. Cũng đã có những đề án, công trình cụ thể tại các vùng khai thác trọng điểm. Nhưng nhìn lại, đó chỉ là những dự án mang tính thí điểm, làm ví dụ mà thôi.

Nguy cơ từ "núi" xít, "sông" thải

Chỉ nhìn vào sản lượng khai thác than nguyên khai hơn 40 triệu tấn năm, đã hình dung ra ngay, mỗi năm TKV thải ra ít nhất là 100 triệu m3 chất thải rắn như đất, đá, xít. Đây là nguyên nhân khiến Quảng Ninh là địa phương duy nhất có rất nhiều "núi chết" cao ngất ngưởng, tồn tại hàng chục năm, nhưng không loại cây cối nào sống nổi, đủ để trở thành mối đe dọa về sạt lở, vùi lấp sông suối, công trình, nhà cửa vùng sản xuất và tính mạng người dân.

Trên cả "đe dọa", tại khu vực khai thác than lộ thiên thuộc thị xã Cẩm Phả thường xuyên xảy ra các vụ sạt lở núi thải gây hậu quả rất nghiêm trọng về người và tài sản. Nguyên nhân không gì khác hơn là do cao trình của các "núi thải" không được xử lý cắt tầng, che chắn đúng quy trình kỹ thuật.

Mỏ khai thác lộ thiên của Cty Than Cọc Sáu.

Tại các vùng khai thác theo công nghệ hầm lò, dựa vào các cứ liệu lưu trữ của chính tập đoàn TKV cho thấy, trải qua nhiều thập kỷ, hầu như chỉ có mở các đường lò mà không hề nghĩ tới chuyện hoàn thổ sau khi lò hết khả năng khai thác than. Theo đó, có thể hình dung dưới lòng đất là chằng chịt, xiên chéo những đường lò mới, cũ đan xen nhau. Đây chính là nguyên nhân gây ra các vụ tai nạn bất ngờ như sập lò, bục túi nước, nổ khí metal năm nào cũng xảy ra. Hậu quả là hàng chục thợ lò bị vùi lấp, chết cháy, chết ngạt.

Ngoài chất thải dạng khối còn có nước thải chưa nhiều hoá chất độc hại. Theo Cục Bảo vệ môi trường (BVMT), tổng lượng nước rửa trôi bề mặt và nước thải hầm lò trong khai thác than khoảng 20-25 triệu m3/năm, hầu hết không được xử lý trước khi thải ra môi trường. Nước thải từ các bãi thải tại mỏ than Hà Lầm có hàm lượng BOD vượt 5,7 lần, COD vượt 5,3 lần, TSS vượt 3,9 lần so với tiêu chuẩn cho phép.

Tại mỏ Mông Dương, hàm lượng Sunfua vượt 1,9 lần, TSS vượt 2,0 lần; mỏ Khe Chàm có hàm lượng Mangan (Mn) vượt 2,8 lần; mỏ Dương Huy có hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) vượt 15,6 lần TCCP. Những chất độc hại này được xác định là "sát thủ" tàn phá môi trường, gây ô nhiễm môi trường biển vịnh Hạ Long. Nguy hiểm hơn, chúng có thể xâm thực gây nhiễm độc nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất.

Những "ví dụ" về hoàn nguyên

Mỏ của Công ty Than Cọc Sáu là một trong những vùng trọng điểm về khai thác than lộ thiên. Sau hàng chục năm khai thác, đến nay độ sâu lòng moong đã ở mức - 300m so mới mực nước biển. Tương ứng với đó, một lượng chất thải như đất đá, xít, xỉ thải ra khoảng 30 triệu m3/năm, đủ để hình thành nhiều "núi thải" thuộc loại to nhất, cao nhất Quảng Ninh.

Nhằm giảm bớt tính nguy hiểm, TKV đã chỉ đạo đơn vị này thực hiện đổ thải theo "quy hoạch", theo "thiết kế" đã được phê duyệt hàng năm của TKV. Các mức tầng thải có chiều cao tầng từ 25-30m theo trình tự từ dưới lên để hạn chế sự trôi lấp và giảm lượng bụi phát sinh các khu vực đổ thải làm ảnh hưởng tới môi trường.

Đặc biệt, các hộ chiếu đổ thải đều được thiết kế trên cơ sở đảm bảo thoát nước, hạn chế tụt lở, trôi lấp và ít ảnh hưởng đến các vùng lân cận. Riêng với bãi thải khu vực Khe Rè (đã từng bị vỡ đập làm vùi lấp nhà dân), đã đầu tư xây dựng hệ thống đập chắn đất số 4 đảm bảo an toàn cho khu vực dân cư phường Cửa Ông, đang tiến hành đổ hoàn chỉnh các phân tầng đúng giới hạn để hoàn nguyên.

Nhằm hạn chế ảnh hưởng của nước thải đến môi trường, thời gian qua, công ty đã tổ chức bơm chuyển tải 2 cấp. Tuy vậy, cho đến nay cũng chưa có cấp thẩm quyền khẳng định về tính hiệu quả, tính bền vững rằng môi trường ở Cẩm Phả từ nay sẽ không còn bị đe dọa.

Ở một số bãi thải khác, TKV cũng đã thử nghiệm trồng cây xanh phủ xanh "núi chết". Nhiều tỷ đồng đã được đầu tư, song cây chỉ sống lay lắt được vài năm rồi tàn lụi.

Tại Công ty Than Nam Mẫu, TKV xác định sẽ xây dựng quy trình chuẩn về việc khai thác than bằng công nghệ "ướt", gắn liền với công nghệ tái tạo, hoàn nguyên môi trường. Nói khái quát, việc khai thác than tại đây sẽ không theo cách làm truyền thống. Tất cả đều dùng nước, nước để khoan than, lấy than, rửa than rồi lọc nước để tuần hoàn, lọc nước để trả về với môi trường tự nhiên.

Điều băn khoăn không phải chi phí đầu tư  cho công nghệ này là những con số quá lớn lao. Cái chính là tính hữu dụng, tính đồng bộ và trữ lượng nước nguồn liệu có đủ để đáp ứng đòi hỏi của công nghệ?

Song, những nỗ lực như thế chưa đủ, môi trường sống, môi trường tự nhiên tại các vùng khai thác than vẫn nhức nhối từng ngày, vì không thể tốt hơn chỉ bằng những việc làm mang tính... ví dụ

Lê Minh Triết
.
.
.