Gia nhập WTO: Vận hội và thách thức

Thứ Năm, 24/08/2006, 08:13

Việt Nam đang trên con đường gia nhập WTO. Để giúp bạn đọc có những khái niệm cơ bản nhất về WTO và thấy được những vận hội cũng như các thách thức mới của nền kinh tế nước ta, ANTG xin trân trọng giới thiệu bài viết của bà Phạm Chi Lan, một trong những chuyên gia hàng đầu về kinh tế đối ngoại của Việt Nam hiện nay.

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được thành lập ngày 1/1/1995, kế tục và mở rộng hoạt động của tổ chức tiền thân của nó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT).

GATT ra đời sau Thế chiến II. Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ cho thương mại quốc tế, 23 nước sáng lập GATT đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý các biện pháp bảo hộ mậu dịch, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hóa mậu dịch, mở đường cho kinh tế và thương mại phát triển, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân các nước thành viên.

Sau vòng đàm phán thuế đầu tiên với kết quả là 45.000 ưu đãi về thuế được áp dụng giữa các bên tham gia, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng mậu dịch thế giới, 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký kết Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực vào tháng 1/1948.

Từ đó tới cuối thế kỷ XX, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán, thời gian đầu  chủ yếu về thuế quan. Từ thập niên 70 và đặc biệt từ vòng đàm phán Uruguay (1986 - 1994), do thương mại quốc tế không ngừng phát triển, số thành viên không ngừng tăng lên, GATT đã mở rộng phạm vi đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn xây dựng các hiệp định hình thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các vấn đề quan trọng khác trong thương mại quốc tế, như hàng rào phi quan thuế, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, cơ chế giải quyết tranh chấp... Diện điều tiết của hệ thống thương mại đa biên được mở rộng, nên GATT với tư cách là một hiệp định không còn thích hợp.

Ngành dệt may đang có nhiều thay đổi để thích nghi với những thách thức khi VN gia nhập WTO.

Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrakesh (Maroc), kết thúc vòng đàm phán Uruguay, các thành viên của GATT đã cùng nhau ký Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp của GATT. WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên Hiệp Quốc và đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995, trở thành tổ chức quốc tế duy nhất quản lý luật lệ giữa các quốc gia trong thương mại quốc tế.

WTO có 4 chức năng chính:

1. Đề xuất và tạo điều kiện thực thi các công cụ pháp lý điều tiết hoạt động thương mại giữa các quốc gia trên quy mô quốc tế.

2. Là diễn đàn để các nước thành viên tiếp tục đàm phán về các vấn đề trong  các hiệp định và những vấn đề mới nhằm mở rộng tự do hóa thương mại.

3. Giải quyết tranh chấp và bất đồng giữa các nước thành viên.

4. Rà soát thường kỳ chính sách thương mại của các nước thành viên.

5 nguyên tắc cơ bản của toàn bộ hệ thống thương mại đa phương của WTO là:

1. Nguyên tắc thương mại không phân biệt đối xử, bao gồm:

- Quy chế tối huệ quốc (MFN): đối xử bình đẳng giữa các nước. Về nguyên tắc, các quốc gia không được phân biệt đối xử giữa các đối tác thương mại của mình; khi đã dành cho một nước một quyền thương mại nào đó thì cũng phải dành cho tất cả các thành viên khác của WTO quyền tương tự. Trường hợp ngoại lệ được phép miễn trừ áp dụng quy chế này là các nước có thể ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương (FTA) hoặc tham gia các hiệp định thương

-  Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT): đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nước ngoài và sản phẩm nội địa. Hàng hóa, dịch vụ sau khi đã được nhập khẩu phải được đối xử như hàng hóa, dịch vụ của nước mình trên thị trường nội địa.

2. Tự do hóa thương mại từng bước và thông qua đàm phán.

- Giảm thuế quan và xóa bỏ các rào cản thương mại khác thông qua đàm phán đa phương; không được nâng thuế suất vượt quá mức thuế ràng buộc.

- Các nước thành viên được từng bước thay đổi chính sách của mình thông qua “lộ trình tự do hóa từng bước”, trong đó các nước đang phát triển thường được có thời hạn dài hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ này.

3. Tăng cường tính minh bạch và ổn định.

- Tạo môi trường thương mại minh bạch, ổn định và dễ dự đoán; yêu cầu các chính phủ công bố công khai các chính sách, biện pháp thương mại.

- Ràng buộc các cam kết đã thỏa thuận; các nước muốn sửa đổi cam kết phải đàm phán và được các đối tác chấp thuận.--PageBreak--

4. Thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng.

- Các quy định MFN, NT nhằm đảm bảo cạnh tranh mở, bình đẳng.

- Các quy định về chống bán phá giá, trợ cấp, tự vệ nhằm chống các biện pháp thương mại không lành mạnh.

5.  Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế.

- Các nước đang phát triển được có thời hạn linh động hơn trong việc thực hiện các hiệp định của WTO.

-  Dành sự trợ giúp đặc biệt và các chính sách thương mại thuận lợi cho các nước đang phát triển.

Về cơ cấu tổ chức: Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng, nhóm họp ít nhất 2 năm một lần. Giữa hai kỳ Hội nghị, Đại Hội đồng (bao gồm đại diện có thẩm quyền của tất cả các thành viên) có chức năng thường trực và báo cáo lên Hội nghị Bộ trưởng. Đại Hội đồng đồng thời đóng vai trò là cơ quan giải quyết tranh chấp và cơ quan rà soát chính sách của WTO. Dưới Đại Hội đồng có 3 Hội đồng chịu trách nhiệm điều hành việc thực thi Hiệp định WTO về từng lĩnh vực thương mại tương ứng. Tham gia các Hội đồng là đại diện của các thành viên. 3 Hội đồng của WTO là:

- Hội đồng hàng hóa điều hành công việc của 11 Ủy ban và Cơ quan giám sát hàng dệt.

- Hội đồng dịch vụ gồm các Ủy ban về dịch vụ tài chính và Ủy ban về các cam kết cụ thể. Ngoài ra còn có các nhóm công tác chuyên trách một số lĩnh vực.

- Hội đồng các khía cạnh liên quan đến thương mại về sở hữu trí tuệ.

Phần lớn các quyết định của WTO đều được thông qua trên cơ sở đồng thuận. Trong một số trường hợp nhất định, khi không đạt được sự đồng thuận, các thành viên có thể tiến hành bỏ phiếu. Khác với nhiều tổ chức khác, mỗi thành viên WTO chỉ có quyền bỏ một phiếu và lá phiếu của các thành viên có giá trị ngang nhau.

Hầu hết các thành viên hiện tại của WTO đều là thành viên trước đây của GATT. Các quốc gia khác có thể gia nhập WTO với điều kiện thông thường là được tất cả các nước thành viên chấp thuận. Khi không thể đạt được đồng thuận, việc kết nạp có thể chỉ cần 2/3 số phiếu bầu. Quá trình gia nhập được dựa trên cơ sở xem xét các chính sách kinh tế, thương mại của nước xin gia nhập và các cuộc đàm phán song phương về mở cửa thị trường. Việc gia nhập của một nước được chính thức hóa bằng việc ký Nghị định thư gia nhập, và có hiệu lực 30 ngày sau khi nộp văn bản thông báo việc cơ quan có thẩm quyền nước mình phê chuẩn Nghị định thư gia nhập

(còn nữa)

.
.
.