Bài 4: Cận cảnh tái cơ cấu, cổ phần hóa tập đoàn

Thứ Tư, 25/07/2012, 11:16
Cổ phần hóa Tập đoàn kinh tế nhà nước là nhiệm vụ trọng tâm, kèm đó là từng bước thoái vốn Nhà nước khỏi tập đoàn. Nhưng thực tế cho thấy, nhiều tập đoàn tỏ ra “né” cổ phần hóa, bởi nếu ngẫm ra thì việc cổ phần đồng nghĩa Nhà nước giảm bớt ưu đãi, trợ cấp cho tập đoàn - một tiền lệ đã khiến các Tập đoàn kinh tế nhà nước quen với cơ chế bao cấp.

Cổ phần hóa TĐKTNN: Bên rầm rộ kế hoạch, bên quạnh hiu

Ngay sau khi Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế được trình ra Quốc hội tại kỳ họp thứ 3, Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan thực hiện kế hoạch sắp xếp, cổ phần hóa DNNN giai đoạn 2012 - 2015 và danh sách các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa năm 2012.

Theo báo cáo của 4 Bộ, 9 TĐKTNN, 10 tổng công ty Nhà nước đặc biệt và 57 địa phương gửi Bộ Tài chính tính đến hết tháng 6/2012 về kế hoạch sắp xếp, cổ phần hóa DNNN giai đoạn 2012-2015 thì: tổng số DNNN thực hiện các hình thức sắp xếp, cổ phần hóa giai đoạn này có 899 doanh nghiệp. Trong đó: Cổ phần hóa 367 doanh nghiệp; các hình thức sắp xếp khác (giao, bán, giải thể, phá sản, giữ nguyên là công ty TNHH một thành viên, chuyển thành công ty TNHH 2 thành viên) 532 doanh nghiệp. Kế hoạch cổ phần hóa DNNN năm 2012 là 93 doanh nghiệp.

Tập đoàn Bưu chính Viễn thông đã lên kế hoạch tái cơ cấu.

Trong số các doanh nghiệp thuộc khối tập đoàn, tổng công ty cổ phần hóa có công ty mẹ của các Tổng Công ty Lắp máy (Lilama), Tổng Công ty Xây dựng và Phát triển hạ tầng (Licogi) - thuộc Tập đoàn Công nghiệp xây dựng; Tập đoàn Dệt may, Tổng Công ty Xi măng…

Tại Tổng Công ty Hàng hải (Vinalines), sẽ có 3 đơn vị được cổ phần hóa trong năm nay là Công ty Dịch vụ hàng hải Vinalines Hải Phòng, Công ty Hàng hải Vinalines Nha Trang và Công ty TNHH Cảng Khuyến Lương. Cơ quan chủ quản cũng sẽ tiến hành cổ phần Công ty TNHH Lọc - Hóa dầu Bình Sơn thuộc Tập đoàn Dầu khí và 2 đơn vị thuộc Tổng Công ty kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) là Công ty Khoáng sản Lai Châu và Công ty Đầu tư và kinh doanh khoáng sản Vinaconex.

Trong khi đó, nhiều TĐKTNN lại “thoát” cổ phần hóa trước năm 2015. Hồi tháng 4/2012, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thuộc Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam (VRG) giai đoạn 2012 - 2015.

Theo đó, duy trì 100% vốn Nhà nước tại công ty mẹ - VRG và 22 công ty TNHH một thành viên trồng và chế biến cao su. Với phương án này, trước năm 2015, chỉ cổ phần hóa Công ty Tài chính TNHH một thành viên Cao su Việt Nam, với tỷ lệ sở hữu của Nhà nước trên 50% vốn điều lệ. VRG phải tổ chức thoái vốn tại 6 công ty con và 9 công ty liên kết, trong đó, có các khoản đầu tư vào CTCK SHS, Quỹ đầu tư Việt Nam, CTCP Cảng hàng không quốc tế Long Thành...

Và góc nhìn cận cảnh

Để có góc nhìn cận cảnh, chúng tôi đã dành nhiều thời gian “thị sát” việc cổ phần hóa ở các tập đoàn rường cột.

Điều đáng chú ý là, khi chúng tôi tìm hiểu vấn đề này, nhiều TĐKTNN tỏ ra ngại nói về cổ phần. Có thực tế là, DNNN giống như “của chung”. Nếu DNNN, TĐKTNN có thua lỗ, làm ăn kém hiệu quả thì cũng không làm ảnh hưởng đến túi tiền của những vị được giao trách nhiệm quản lý DNNN.

Ngoại trừ trường hợp phạm tội, còn không họ chỉ bị kiểm điểm về việc đã thiếu năng lực, nếu cần thiết thì chuyển công tác sang nơi khác. Nhà nước chỉ cử đại diện của mình để quản lý TĐKTNN, lợi nhuận của tập đoàn theo nguyên tắc phải “chảy” vào ngân sách Nhà nước và khi TĐKTNN làm ăn thua lỗ thì ngân sách Nhà nước phải rót để “cứu” tập đoàn trả nợ (điển hình như vụ việc ở Vinashin, Vinalines).

Điều này vừa tạo tính cạnh tranh không lành mạnh vừa làm hao mòn ý chí làm việc của người lao động. Vì được ưu ái như thế, nhiều TĐKTNN tỏ rõ “ngại” cổ phần hoá, vì bản chất của cổ phần hóa không khác gì tước mất “bầu sữa”. Bởi thế, trong quá trình đi thu thập tài liệu để viết bài về công tác CPH các TĐKTNN, chúng tôi không dễ gì được tiếp cận với các thành viên Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc.

Dù đã xác định để tạm thời phân chia các TĐKTNN thành 3 nhóm: nhóm độc quyền (như điện, xăng dầu); nhóm đào tài nguyên lên bán (như dầu khí, than khoáng sản) và nhóm có sự cạnh tranh theo thị trường (như dệt may, bưu chính viễn thông), song phần lớn các TĐKTNN đều “ngại” chia sẻ.

“Ông lớn” Tập đoàn Dầu khí (Petro Vietnam) nhấn mạnh tại Đề án Tái cấu trúc tập đoàn giai đoạn 2012 - 2015 đã trình Thủ tướng là “xây dựng tập đoàn trở thành doanh nghiệp Nhà nước tốt nhất, là trụ cột của kinh tế Nhà nước, công cụ vật chất của Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, an sinh xã hội, tích cực tham gia giữ vững chủ quyền quốc gia trên biển”.

Đề án cũng xác định tập đoàn sẽ đầu tư vào 5 lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính là: thăm dò khai thác dầu khí, lọc - hóa dầu, công nghiệp khí, công nghiệp điện và dịch vụ dầu khí chất lượng cao, trong đó thăm dò khai thác dầu khí là cốt lõi. Trong 4 quan điểm được Petro Vietnam nhấn mạnh, đáng chú ý “yếu tố nhân sự là quyết định thành bại trong kinh doanh và tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước”.

Ở 4 nhóm giải pháp, tập đoàn nêu rõ, sẽ mạnh dạn xử lý các đơn vị làm ăn thua lỗ, mục đích kinh doanh không phù hợp dưới các hình thức: bán khoán, cho thuê, sáp nhập, giải thể…

Thật ra, những ý trọng tâm mà Petro Vietnam nêu trên chỉ là chuyện cũ nhắc lại. Dù lên tập đoàn, hay trước đây là tổng công ty, thì việc dầu khí là trụ cột của nền kinh tế Nhà nước đã mang tính tất yếu khi mà nguồn thu từ dầu khí chiếm khoảng 25% GDP.

Đây là lĩnh vực đào tài nguyên đất nước để bán dạng thô, gần đây có thêm lọc, hóa dầu và công nghiệp khí, điện, thì lẽ ra cái cần cơ cấu nhất là Petro Vietnam làm thế nào để giảm bớt việc bán tài nguyên thô gây lãng phí năng lượng quốc gia, thì điều này còn bỏ ngỏ. Trong văn bản trả lời câu hỏi của Báo CAND, ông Đinh Quang Tri, Phó Tổng Giám đốc EVN cho hay, từ nay đến năm 2015, EVN cần trên 500 ngàn tỷ đồng để đầu tư các công trình nguồn và lưới điện.

Đề cập tái cơ cấu, EVN nhấn mạnh hai lĩnh vực: tái cơ cấu ngành nghề và tái cơ cấu sở hữu. Về tái cơ cấu ngành nghề, EVN tập trung vào lĩnh vực chính là sản xuất kinh doanh điện năng và đầu tư phát triển theo quy hoạch phát triển điện lực quốc gia, rút khỏi các lĩnh vực kinh doanh ngoài ngành. Trong lĩnh vực viễn thông công cộng, bàn giao nguyên trạng EVN Telecom sang Tập đoàn Viễn thông Quân đội quản lý theo Quyết định số 2151/QĐ-TTg ngày 5/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

Trong các lĩnh vực ngân hàng, bất động sản, bảo hiểm, chứng khoán: Hội đồng thành viên EVN đã có các Nghị quyết về chủ trương chuyển nhượng cổ phần của EVN tại các lĩnh vực này. “Tập đoàn đã tiến hành xây dựng lộ trình và đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để chuyển nhượng cổ phần, kiên quyết phấn đấu đến năm 2015 sẽ thực hiện thoái vốn triệt để tại các lĩnh vực bất động sản, chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm” - ông Tri nói.

Tuy nhiên, về tái cơ cấu sở hữu, cổ phần hóa, EVN chỉ thông tin ngắn gọn: Tiếp tục cổ phần hoá theo chỉ đạo của Chính phủ. Tiến hành xem xét, báo cáo Chính phủ cho bán tiếp cổ phần tập đoàn đang nắm giữ tại các công ty phát điện đã cổ phần hóa mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối. Nguồn vốn thu được sẽ tập trung cho đầu tư phát triển nguồn và lưới điện.

Thành lập các Tổng Công ty Phát điện trước mắt trực thuộc EVN, sau đó sẽ tách khỏi EVN và tiến hành cổ phần hoá vào thời điểm thích hợp phục vụ cho vận hành thị trường phát điện cạnh tranh theo lộ trình của Chính phủ. Như vậy, việc cổ phần hóa EVN chỉ “nhắm” vào các công ty con - những đơn vị chỉ mang tính phụ trợ, còn nguồn vốn khổng lồ ở công ty mẹ vẫn khoanh vùng!

Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) khó cưỡng lại cổ phần hóa, bởi ngành nghề này hiện cạnh tranh cực lớn, không dễ để có bao cấp hay độc quyền như EVN, dầu khí, than, khoáng sản, xăng dầu...

Cho tới thời điểm này, hơn 80% đơn vị thành viên của tập đoàn đã hoàn tất công tác cổ phần hóa. Tập đoàn này cho rằng, sau cổ phần hóa, một số doanh nghiệp thành viên Vinatex đạt kết quả kinh doanh tốt như Tổng Công ty cổ phần May Nhà Bè đặt mục tiêu chia tỷ lệ cổ tức từ 18% đến 25% và đạt mức lợi nhuận trước thuế 65 tỷ đồng (năm 2011). 

Tuy nhiên, theo đại diện Bộ Công Thương, Vinatex sẽ khó hoàn thành kế hoạch cổ phần hóa trong năm 2012, bởi tập đoàn này vừa gửi văn bản lên Bộ Công Thương đề nghị lựa chọn đơn vị xác định giá trị doanh nghiệp. Theo đó, có 5 đơn vị được Vinatex đệ trình đang chờ Ban chỉ đạo Cổ phần hóa của Bộ Công Thương phê duyệt...

Nhiều nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ bán cổ phần các TĐKTNN ra bên ngoài không cao, chứng tỏ tình trạng cổ phần hóa “khép kín” trong nội bộ doanh nghiệp vẫn đang diễn ra phổ biến, hạn chế việc thu hút nhà đầu tư có tiềm năng về vốn, công nghệ và trình độ quản lý. Bởi vậy cần có chuyển biến mạnh mẽ từ hình thức cổ phần hóa nội bộ là chính sang hình thức bán cổ phần ra ngoài doanh nghiệp, kể cả việc bán cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Theo Bộ Tài chính, danh sách doanh nghiệp cổ phần hóa trong năm 2012 chỉ có 5 tập đoàn kinh tế, gồm Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Hóa chất, Tập đoàn Công nghiệp xây dựng, Tập đoàn Phát triển Nhà và Đô thị, Tập đoàn Dệt may Việt Nam. Ngoài ra, đợt sắp xếp này còn có 15 tổng công ty Nhà nước đặc biệt, trong đó có Tổng Công ty Đầu tư kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), Hàng hải Việt Nam, Cà phê Việt Nam sẽ được cổ phần hóa, sắp xếp lại theo đúng quy định.

Sợ cổ phần vì tập đoàn lo mất “bầu sữa”

Ông Lê Như Tiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cho rằng, các tổng công ty, tập đoàn Nhà nước nắm trong tay vốn chủ sở hữu của Nhà nước lên đến 700.000 tỷ đồng, lớn hơn tổng số thu ngân sách hằng năm của quốc gia, song hiệu quả kinh doanh lại không tương xứng với đầu tư của Nhà nước và sự kỳ vọng của nhân dân.

Một số "quả đấm thép" đang rò chảy khiến chúng ta phải tính đến tái cấu trúc, phải nghĩ đến phương thức đầu tư, cách thức quản trị doanh nghiệp và phải chăng có nguyên nhân là do Nhà nước quá ưu đãi, sẵn sàng cung ứng "bầu sữa" ngân sách, nguồn lực đất đai mà chưa xem xét toàn diện đến năng lực hiện thực và khả năng thực hiện của các doanh nghiệp này. Mỗi khi doanh nghiệp "hoạn nạn", Nhà nước dễ dàng mở ngân khố, hầu bao quốc gia để giải cứu, ném “phao cứu sinh”, đến nỗi nhiều doanh nghiệp không mặn mà cổ phần hóa, chỉ muốn bao cấp dài dài.

(Còn nữa)
Phạm - Đăng - Nguyễn - Lệ
.
.
.