Nghệ thuật số tiếp cận di sản văn hóa

Thứ Ba, 14/04/2026, 15:58

Nghệ thuật số đang thay đổi cách người Việt tiếp cận di sản và văn hóa. Từ những bộ sưu tập tĩnh trong tủ kính, công chúng dần bước vào trải nghiệm sống động qua trình chiếu mapping và trí tuệ nhân tạo. Bên cạnh việc hỗ trợ hoạt động bảo tồn, công nghệ còn làm sống dậy các lớp giá trị văn hóa, đồng thời mở ra động lực cho kinh tế trải nghiệm theo hướng bền vững.

Công nghệ chuyển đổi trải nghiệm

Nghệ thuật số đang nổi lên như một xu hướng mới đầy sức sống và tiềm năng trong lĩnh vực văn hóa. Đặc biệt, xu hướng này thể hiện rõ nét qua sự chuyển đổi sâu sắc từ không gian lưu trữ truyền thống sang các trải nghiệm tương tác sống động. Không chỉ dừng lại ở vai trò công cụ kỹ thuật, nghệ thuật số còn mở ra không gian sáng tạo vô hạn cho các nghệ sĩ, đồng thời đóng góp phần thiết thực vào sự phát triển của nền công nghiệp văn hóa sáng tạo và kinh tế trải nghiệm - hai động lực quan trọng của nền kinh tế hiện đại.

Nghệ thuật số tiếp cận di sản văn hóa -2
Trình chiếu 3D mapping tái hiện một phiên bản tranh tường của họa sĩ Victor Tardieu. Nguồn: LHTKST

Chính trong bối cảnh đó, nghệ thuật và di sản Việt đang bước vào giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ. Từ những không gian trưng bày tĩnh với hiện vật đặt trong tủ kính kèm bảng chú thích khô khan, các trải nghiệm đã trở nên sống động hơn khi công nghệ số “đánh thức” ký ức lịch sử và kết nối chặt chẽ quá khứ với hiện tại. Các nghệ sĩ đương đại không ngừng nỗ lực biến di sản văn hóa thành những thực thể sống thông qua video mapping, nghệ thuật trình chiếu, kết nối và tương tác đa chiều.

Theo TS. Trần Hậu Yên Thế, giảng viên Trường Khoa học liên ngành và nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội, xu hướng nói trên đang được thực hành mạnh mẽ và đầy sáng tạo, với Bảo tàng Hà Nội là đơn vị tiên phong trong việc kết hợp hài hòa nghệ thuật số và trí tuệ nhân tạo.

“Về bản chất, bảo tàng là nơi lưu giữ và trưng bày các bộ sưu tập hiện vật. Trong môi trường số hóa, nguồn lực này có thể sử dụng để giải bài toán tăng thời gian trải nghiệm của công chúng. Trước đây, nếu chỉ trưng bày hiện vật tĩnh, du khách có thể nhanh chóng lướt qua. Tuy nhiên, khi hiện vật được số hóa thành trải nghiệm động, người xem không chỉ bị thu hút về mặt thị giác mà còn phải dành thời gian đáng kể cho việc theo dõi”, TS. Trần Hậu Yên Thế nhận định.

Nghệ thuật số tiếp cận di sản văn hóa -0
Công nghệ ánh sáng tái hiện kinh đô Thăng Long thời Lý. Ảnh: Hoàng thành Thăng Long

Nhờ cơ chế trên, việc kéo dài thời gian lưu trú không chỉ giúp công chúng thẩm thấu giá trị văn hóa sâu sắc hơn mà còn tạo ra giá trị kinh tế thực tiễn, hoàn toàn phù hợp với mục tiêu phát triển du lịch của thành phố Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung. Khi du khách dành nhiều giờ trải nghiệm tại một địa điểm, họ có xu hướng ở lại dài ngày hơn, từ đó thúc đẩy chi tiêu cho lưu trú, ẩm thực, di chuyển, mua sắm và các hoạt động giải trí khác. Do đó, ứng dụng nghệ thuật số trong bảo tàng chính là giải pháp then chốt mà ngành du lịch và ngành bảo tàng cùng chung tay thực hiện, góp phần xây dựng nền kinh tế trải nghiệm bền vững.

Sự khác biệt lớn nhất giữa hiện vật tĩnh và hiện vật được chuyển hóa thành hình ảnh số động nằm ở chiều kích thời gian. Từ tranh 2D sang 3D, từ tĩnh sang động, hình ảnh động đòi hỏi người xem phải dừng lại, theo dõi và đắm chìm lâu hơn. Đó chính là giá trị vi diệu mà nghệ thuật số mang lại cho ngành công nghiệp văn hóa sáng tạo khi không chỉ bảo tồn di sản mà còn khiến di sản trở nên gần gũi, sống động và có sức hút mạnh mẽ hơn với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ - những người tiếp nhận thông tin nhanh chóng và tương tác cao.

Hiện vật và bảo tàng không biên giới

Hành trình ứng dụng công nghệ số vào bảo tàng và di sản tại Việt Nam đã ghi nhận nhiều dấu mốc quan trọng, đánh dấu sự chuyển biến rõ nét từ trưng bày tĩnh sang trải nghiệm tương tác sống động.

Nghệ thuật số tiếp cận di sản văn hóa -3
Không gian trải nghiệm số trong tour đêm di tích. Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám

Bước ngoặt đầu tiên phải kể đến năm 2019 với triển lãm đa phương tiện về tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái tại Bảo tàng Hà Nội. Đây là lần đầu tiên video mapping được ứng dụng quy mô lớn để phóng to các tác phẩm có kích thước nhỏ (chủ yếu A4 trở xuống), giúp nhiều du khách có thể chiêm ngưỡng cùng lúc. Đặc biệt, công nghệ AI được kết hợp để ghép nối hình ảnh và đồng bộ theo tiết tấu của nghệ thuật chèo truyền thống, tạo nên một trải nghiệm tương tác mới lạ, vừa nghệ thuật vừa gần gũi.

Từ thành công của dự án tiên phong này, hàng loạt dự án tiếp nối đã được triển khai mạnh mẽ. Nổi bật trong số đó là trưng bày Bảo tàng Tiền Thăng Long dưới Nhà Quốc hội, dự án tour đêm Văn Miếu - Quốc Tử Giám, dự án “Cảm thức Đông Dương” với tâm điểm là tòa nhà Đại học Tổng hợp (19 Lê Thánh Tông) trong khuôn khổ Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội 2024, cùng nhiều dự án khác. Những sáng kiến này không chỉ làm sống dậy các không gian di sản đô thị mà còn góp phần khơi dậy sức sống mới cho di sản, biến chúng thành những điểm đến hấp dẫn và ý nghĩa hơn.

Là người trực tiếp thực hiện nhiều dự án nghệ thuật hướng tới cộng đồng tại Thủ đô, họa sĩ, giám tuyển Nguyễn Thế Sơn cho biết: “Hành trình từ năm 2019 đến nay là chặng đường thử nghiệm và khám phá khả năng biến những nghiên cứu về di sản tĩnh thành triển lãm và các dự án nghệ thuật đánh thức không gian di sản. Từ góc độ nghề nghiệp, chúng tôi đặc biệt coi trọng việc nghiên cứu tư liệu và dữ liệu hóa chúng để phát huy trong nghệ thuật số”.

Họa sĩ, giám tuyển Nguyễn Thế Sơn cũng nhấn mạnh các ứng dụng này gần như trùng khớp với định hướng chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, khẳng định đây là xu thế không thể đảo ngược, phù hợp với bài học từ nhiều thành phố lớn trên thế giới có bề dày văn hóa và di sản.

Cùng chia sẻ nhận định tích cực, họa sĩ Phạm Trung Hưng, Giám đốc Công ty CMYK Việt Nam, người trực tiếp thực hành nghệ thuật số, cho biết: “Thành công của các triển lãm, dự án những năm qua cho thấy phần lớn các mô-đun ứng dụng công nghệ và kỹ thuật số đều thu hút rất đông khách tham quan. Nghệ thuật số có lợi thế rất lớn trong việc tái hiện, giải mã các hiện vật và công trình kiến trúc cổ. Với giới trẻ ngày nay, những thông tin được truyền tải qua hình ảnh số sẽ nhanh chóng và có sức lan tỏa mạnh mẽ hơn nhiều so với cách tiếp cận truyền thống”.

Bên cạnh những thành tựu cụ thể, một đóng góp quan trọng khác của nghệ thuật số là giúp tạo ra khái niệm “bảo tàng không biên giới”. Đặc biệt trong bối cảnh đại dịch COVID-19, việc phát triển lưu trữ số và bảo tàng kỹ thuật số đã vượt qua giới hạn không gian vật lý, đồng thời truyền cảm hứng mạnh mẽ cho nhiều nghệ sĩ đương đại khai thác kho tư liệu lưu trữ của bảo tàng để sáng tạo ra những tác phẩm mới, giàu giá trị văn hóa, nghệ thuật.

Thách thức và hướng phát triển

Dù công nghệ số ngày càng dễ tiếp cận và làm chủ, các chuyên gia cho rằng việc phát triển nghệ thuật số từ kho lưu trữ tại Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức, đặc biệt là hạn chế về tư duy liên ngành trong quá trình chuyển đổi từ tĩnh sang động.

Nghệ thuật số tiếp cận di sản văn hóa -1
Triển lãm đa phương tiện tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái. Nguồn: Bảo tàng Hà Nội

Để làm rõ vấn đề này, TS. Trần Hậu Yên Thế nêu ví dụ về hiện vật chân tảng chùa Phật Tích khắc họa dàn nhạc thời Lý. Muốn chuyển hình ảnh tĩnh này thành một trình chiếu dạng động thuyết phục không thể chỉ dựa vào kiến thức khảo cổ học hay lịch sử thuần túy. Công việc đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều lĩnh vực như khảo cổ, lịch sử, nghệ thuật biểu diễn và nghiên cứu quốc tế, bởi một số vũ điệu cổ có nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Á. Đây là một khối tri thức liên ngành thực sự. Nếu thiếu cách tiếp cận liên ngành, công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng khó tạo ra sản phẩm có sức thuyết phục và giá trị tri thức, nghệ thuật cao.

Bên cạnh thách thức về tư duy, chi phí đầu tư cũng luôn là bài toán nan giải, bởi các dự án nghệ thuật số thường đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn. Tuy nhiên, kinh tế sáng tạo hoàn toàn có thể trở thành giải pháp hiệu quả. Thay vì chi tiền cho quảng cáo truyền thống, doanh nghiệp đang được thuyết phục tài trợ cho các dự án nghệ thuật số, giáo dục và trải nghiệm thực tiễn. Đổi lại, họ sẽ nhận được quyền lợi truyền thông và cơ hội phát triển công nghệ của chính mình. Để thực hiện được điều này, cần có những chuyên gia am hiểu sâu về công nghiệp sáng tạo đóng vai trò cầu nối, nhằm tối ưu hóa nguồn lực và huy động vốn từ đa kênh xã hội.

Hiện nay, hầu hết các dự án nghệ thuật số tại Việt Nam vẫn mang tính nhỏ lẻ, chủ yếu là nghiên cứu cá nhân hoặc được thực hiện trong quy mô giới hạn của các triển lãm, dự án và lễ hội. Để nghệ thuật số thực sự trở thành hướng đi chính thống và mũi nhọn, cần xây dựng chiến lược đầu tư dài hạn cùng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, tư nhân và các nhà nghiên cứu. Chỉ khi đó, việc ứng dụng công nghệ số mới có thể trở thành thao tác kỹ thuật bắt buộc, được thực hiện thường xuyên, bền bỉ.

Các chuyên gia cũng nhấn mạnh rằng chính sách hiện hành đã khá cởi mở, nhưng vẫn cần bổ sung mạnh mẽ lực lượng cho công nghiệp văn hóa. Cần chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, tạo ra những sản phẩm có điểm nhấn rõ nét, đảm bảo tính chính xác lịch sử và mang lại giá trị thực sự cho di sản văn hóa. Đồng thời, phải đặc biệt chú trọng định hướng đạo đức nghề nghiệp khi ứng dụng trí tuệ nhân tạo, tôn trọng bản quyền, đẩy mạnh đào tạo thế hệ nghệ sĩ số mới và phát triển các hình thức nghệ thuật nhập vai (immersive) tiên tiến.

Nguyệt Linh
.
.
.