Tản mạn về bút danh
Nhà văn, nhà báo, nhà thơ từ xưa tới nay khi đã sử dụng một bút danh nào đó thì người viết đã có chủ ý riêng của mình. Có những bút danh trở thành “bí danh”, không phải là quen thân hoặc người cùng nghề thì không thể biết được tên thật của tác giả. Mỗi một nhà văn, nhà báo, nhà thơ thường có một hoặc nhiều bút danh khác nhau.
Có những nhà văn, nhà báo dùng bút danh bắt nguồn từ tên người thân hoặc gắn với những kỷ niệm riêng tư, sâu sắc nào đó trong cuộc đời họ. Chẳng hạn nhà thơ Bùi Minh Quốc chọn cái tên khác cho tác phẩm của mình là Dương Hương Ly. Tên nghe rất phụ nữ và thực tế đó chính là sự ghép nối giữa tên vợ và tên con của ông. Nhà văn Dương Thị Xuân Quý vợ của nhà thơ còn có một tên khác là Dương Thị Minh Hương, con gái của Bùi Minh Quốc tên là Ly.
Còn nhà thơ Hà Đức Trọng ở xứ Quảng Nam, nơi có con sông đẹp và thơ mộng nổi tiếng chảy qua - con sông Thu Bồn, đây cũng là bút danh của ông, nhà thơ Thu Bồn. Một loại bút danh độc đáo khác được nhà thơ nổi tiếng ở vùng đất “gió Lào cát trắng” sử dụng. Đó là nhà thơ Chế Lan Viên.
Ngay từ thời trai trẻ Chế Lan Viên đã có những bài thơ khóc than cho số phận của đất nước Chiêm Thành, và ông đã lấy bút danh họ “Chế” để tưởng nhớ vị vua Chế Bồng Nga. Ngoài ra nhà thơ Phan Ngọc Hoan (Chế Lan Viên) còn có một số bút danh khác như “Chàng Văn” để làm đối trọng với chữ “Nàng Thơ”, hoặc “Thạch Hãn” để nhớ về một con sông đại diện cho quê hương xứ sở Quảng Trị của nhà thơ.
Bút danh của nhà thơ Xuân Diệu thì đơn giản hơn, ông tên thật là Ngô Xuân Diệu và bút danh Xuân Diệu chỉ là sự rút gọn tên thật của mình. Cũng giống như vậy nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận; hoặc Nguyên Hồng là Nguyễn Nguyên Hồng hoặc Tế Hanh là Trần Tế Hanh... Rất nhiều các bút danh của những tác phẩm nổi tiếng khác mà hiện nay vẫn được mọi người xem là “điều bí ẩn” vì chưa thể lý giải được một cách rõ ràng.
Tiêu biểu cho những bút danh nói trên là nhà thơ Quang Dũng với nhiều bài thơ tình mộng mơ và hào hoa, đã trở thành nguồn cảm hứng của những chàng lãng tử, giàu tình cảm. Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm, nhưng vì sao ông sử dụng bút danh này thì đến nay chúng ta vẫn chưa hiểu.
Thanh Tịnh luôn thể hiện một tấm lòng đằm thắm, tình cảm sâu lắng thủy chung trong những bài thơ viết về Huế. Ông tên thật là Trần Văn Ninh. Trong những bài thơ khá nổi tiếng viết về nỗi buồn chia ly trong “Tống biệt hành”, hoặc “Chiều mưa đường số 5” tác giả Nguyễn Tuấn Trình đã ký bút danh là Thâm Tâm.
Thơ Thâm Tâm luôn sâu nặng tình cảm da diết nhớ thương quê hương, đất nước, con người. Một nhà thơ khác là Tản Đà, hầu như thơ của ông ai cũng biết, ông tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu. Bút danh Tản Đà được ông lý giải là sự phối hợp giữa sông Đà và núi Tản Viên (núi Ba Vì). Đây là hai vật tượng trưng thiêng liêng cho nơi chôn rau cắt rốn của nhà thơ.
Còn nhà văn Tô Hoài cũng vậy, ông sinh ra tại Hà Nội, nơi có con sông Tô Lịch chảy qua. Xưa kia nơi ông trưởng thành và lớn lên chính là địa phận thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Có lẽ đó là lý do hình thành bút danh Tô Hoài của nhà văn Nguyễn Sen.
![]() |
| Nhà văn Tô Hoài. |
Hàn Mặc Tử chỉ là bút danh, còn tên thật của nhà thơ là Nguyễn Trọng Trí. Theo các nhà nghiên cứu về ông thì bút danh Hàn Mặc Tử được ghép giữa các nghĩa của từ Hán Việt: “Hàn” ám chỉ cây bút lông; “Mặc” tức là mực dùng để viết. “Hàn Mặc Tử” có nghĩa là người viết văn, làm thơ hoặc người có duyên nợ với văn chương.
Còn theo tác giả Trần Đình Thu trong loạt bài “Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ" đăng trên báo Thanh Niên thì cho đến nay, những nhà sưu tầm, nghiên cứu, những người quan tâm vẫn phân thành 2 “trường phái” khác nhau: Hàn Mạc Tử và Hàn Mặc Tử.
Những “đại biểu tiên phong” cho “trường phái Mạc” có thể kể: Giáo sư Hoàng Như Mai, Giáo sư Văn Tâm, nhà sưu tầm Phạm Xuân Tuyển. Còn những người theo “trường phái Mặc”, có lẽ hai người quan trọng nhất là Nguyễn Bá Tín, em ruột nhà thơ và Quách Tấn, bạn thân nhà thơ.
Nguyễn Bá Tín cho biết, bút danh Hàn Mặc Tử đã có trước, còn bút danh Hàn Mạc Tử chỉ là bạn bè đặt cho để trêu đùa: “Có nhiều hôm anh ngồi thừ trên chiếc ghế mây, nhìn qua bức mành tre sáo trước cửa, đợi chị Cúc đi ngang qua, trông anh đến thiểu não.
Chị Cúc biết điều đó, về sau kể với con gái chị Như Lễ rằng: "Nghĩ tội nghiệp anh quá. Bạn bè đến chơi trông thấy anh ngồi buồn bã như kẻ thất tình, nên thường trêu cợt anh là con người sau bức rèm lạnh và gọi đùa anh là Hàn Mạc Tử. Chữ Hàn ở đây có nghĩa là lạnh và chữ Mạc không dấu là bức màn. Hai chữ Hàn Mạc là bức rèm lạnh. Anh chỉ cười, không nói gì, cũng không để ý đến nữa. Mãi về sau khi anh qua đời còn nhiều người vẫn lầm tưởng bút hiệu của anh là Hàn Mạc Tử”.
Ông Tín cho biết, Tử vốn rất ngưỡng mộ triết gia Mặc Dịch thời Chiến Quốc, nổi tiếng chủ trương thuyết Kiêm ái, nên anh cũng tự nhận thuộc môn phái Mặc Dịch, thương yêu hết mọi người. Chữ Mặc Tử có ý nghĩa là môn đồ Mặc Dịch. Chữ Mạc Tử thì không có ý nghĩa gì. Chữ Hàn Mặc Tử nói lên ý nghĩa một thi sĩ nghèo nàn, nhưng tình thương rộng rãi bao la.
Quách Tấn thì kể tỉ mỉ hơn và có phần khác Nguyễn Bá Tín. Quách Tấn cho biết, khi mới bước vào làng thơ, Tử lấy bút danh là Minh Duệ Thị, sau đổi là Phong Trần. Quách Tấn chê bút danh Phong Trần không hợp với Tử. Vì thế Tử đổi qua bút danh Lệ Thanh.
Nhưng được ít lâu Quách Tấn lại chê. Tử lại đổi qua Hàn Mạc Tử. Quách Tấn lại chê nữa. Khi đó Tử nổi nóng. Quách Tấn liền gợi ý: “Đã có rèm thì thêm bóng trăng vào. Hỏi còn cảnh nào nên thơ bằng?”. Nghe vậy, Tử thêm “bóng trăng” là dấu á trên đầu chữ a nên chữ Mạc thành ra Mặc. Từ đó bút danh đổi nghĩa từ “kiếp rèm lạnh” ra “anh chàng bút mực”.
Khác biệt nhất so với nhiều bút danh thường lấy bằng cấp, học vị hoặc những tên gọi như đã nêu ở trên, nhà sĩ phu yêu nước Nguyễn Đình Chiểu với bút danh Đồ Chiểu có nghĩa là thầy giáo Nguyễn Đình Chiểu. Học giả nổi tiếng trong làng văn, làng báo của nước ta mà mọi người đều biết với cái tên Trần Bạch Đằng, thực ra ông tên thật là Trương Gia Thiều. Những bài thơ quen thuộc của ông lại được ký tên với bút danh “Hưởng Triều” hoặc “Nguyễn Hiểu Trường”. Trần Bạch Đằng còn có bút danh khá nổi tiếng gắn liền với bộ tiểu thuyết và kịch bản phim nhiều tập “Ván bài lật ngửa” với tên Nguyễn Trương Thiên Lý do nghệ sĩ Nguyễn Chánh Tín đóng vai chính...”.
Một cách dùng bút danh khác của các nhà văn, nhà thơ, nhà báo từ lâu đã trở thành một trào lưu, tiêu biểu là việc lấy chữ “Tú” của nhà thơ trào phúng “Tú Xương” để làm bút danh cho mình. Ai cũng biết nhà thơ có tên thật là Trần Kế Xương, ông từng kể với chúng ta hoàn cảnh gia đình mình qua hai câu thơ tặng vợ nổi tiếng: “...Quanh năm buôn bán ở mom sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng...”. Sau nhà thơ Tú Xương đã xuất hiện hàng chục bút danh con cháu của cụ mang danh họ “Tú”.
Nổi bật trong số đó trước hết là nhà thơ Tú Mỡ, tên thật của ông là Hồ Trọng Hiếu, đây là một thi sĩ trào phúng nổi danh trong làng văn chương cận đại của Việt Nam. “Tú Mỡ” cũng là hàm ý sự tiếp nối, kế thừa tài danh của “Tú Xương” về một mảng thơ hài sâu sắc của nhà thơ tiền bối này.
Đến phiên Tú Mỡ, ông cũng chẳng hẹp hòi gì mà không đồng ý cho hàng loạt con cháu hậu sinh đã “tự tiện” lấy bút danh họ “Tú” khác. Lũ con cháu sau này ngày càng sáng tạo ra những bút danh họ Tú như: Tú Gân; Tú Cốt; Tú Thịt; Tú Nạc; Tú Lông; Tú Ba Rọi... xuất hiện ngày càng nhiều trên các trang thơ vui, biếm họa, câu lạc bộ trào phúng, cười trên hàng trăm tờ báo và tạp chí của cả nước

