“Nhặt chữ” trên đỉnh Tà Xùa

Thứ Bảy, 05/04/2008, 10:45
Khuya. Thầy giáo Lò Văn Tuấn, giáo viên Cụm trường Tiểu học trung tâm Háng Đồng (Tà Xùa, Bắc Yên, Sơn La) ra suối lấy nước. Thầy giật mình khi thấy một đứa trẻ đang nằm gần bờ suối, tay vẫn giữ khư khư chiếc cặp. Thầy vội ôm lấy đứa trẻ, chạy một mạch về nhà đốt lửa sưởi ấm. Thầy Tuấn xót xa khi nhận ra đứa trẻ chính là một học sinh của mình.

Xã Tà Xùa, nằm trên độ cao hơn 1.600m so với mực nước biển, quanh năm sương mù bao phủ, cách trung tâm huyện gần 20 km. Cụm trường trung tâm Háng Đồng cách trung tâm xã gần 30 km đường rừng. Đây là ngôi trường đặc biệt vì chỉ có 3 lớp gồm lớp 1, lớp 3 và lớp 4.

Tổng số học sinh của trường là 83 em. Trong số này, đa phần nhà các em đều cách xa trường từ 5 đến 7 km. Hàng ngày, các em phải cuốc bộ trước giờ lên lớp hàng tiếng đồng hồ.

Đặc biệt, có tới 14 học sinh ở các bản Háng Đồng C và bản Làng Sáng.

Từ nhà đến trường khoảng 30 km đường rừng. Vì vậy, để theo học các em phải dựng những túp lều bé xíu, nằm chon von trên một sườn đồi như những tổ chim. Đám trẻ con ấy em lớn nhất mới chừng 13, 14 tuổi, em nhỏ chỉ 8 đến 10 tuổi. Nhỏ thế nhưng các em đã phải rời xa vòng tay của cha mẹ để trọ học.

Những “tổ chim”

Mỗi túp lều chừng 1,5m chiều dài, 1,5m chiều rộng và cao cũng chừng ấy, chỉ đủ kê một chiếc phản con con để nằm. Chung quanh là bốn tấm phên nứa, phía trên được phủ bạt tạm bợ.

Tôi mở cửa, định chui vào thì bị những cuộn khói hất ngược trở ra! Thì ra trong cái "tổ chim" lạnh quá, các em phải nhóm ngay một đống lửa ở góc nhà, vừa để nấu cơm, vừa làm lò sưởi!

Cố gắng nhắm mắt nhắm mũi rồi tôi chui vào. Trên giường chỉ có một tấm chăn mỏng và mấy quyển sách giáo khoa. Trên giá có chai nước, hai cái bát và hai đôi đũa. Cuộc sống trọ học của các em mới đơn giản làm sao.

Tôi hỏi, các em nằm thế này có rét không? “Rét lắm chú ạ”, hai em trai đồng thanh. “Nhất là những hôm trời mưa, chăn áo ướt hết. Nằm trong nhà mà không hơn nằm ngoài là mấy chú ạ!” - một em ngập ngừng nói.

Được “tham dự” bữa nấu cơm với các em, tôi nghẹn lòng. Một vốc gạo đỏ được bỏ vào nồi, chêm nước rồi bắc lên bếp... Hôm nay có tôi “ăn ké”, các em bốc thêm một nắm nữa.

Cơm chín, chả cần bát đũa, hai em mỗi em một cái thìa cứ thế xúc ăn. Tôi cũng xúc một thìa cơm bỏ vào miệng mà lòng xót xa. Chả biết gạo nương ở đâu ngon, chứ gạo ở đây nhạt thếch, hạt cơm ăn vừa cứng, vừa có mùi hôi.

Thế mà, cứ triền miên ngày này qua tháng khác, những học sinh ở đây bữa nào cũng như bữa nào, chỉ cơm và... cơm. Sang lắm thì có mấy quả ớt rừng hay mấy lát măng xào với ít mỡ xin của các thầy giáo - một em học sinh kể.

Để ý một chút, tôi phát hiện ra hầu như “tổ chim” nào của các em cũng có những cái bẫy nho nhỏ. “Bẫy chuột đấy chú ạ” - một em học sinh giải thích. “Nếu may mắn vớ được một con chuột - đó sẽ là “bữa tiệc” cho chúng cháu!”.

Buổi sáng, các em thường dậy từ sớm. Nấu chút cơm, ăn xong là đến giờ lên lớp. Buổi chiều, các em phải vào rừng kiếm củi để sưởi và nấu nướng. Hầu như thời gian để tự học, làm bài tập của các em rất ít. Buổi tối, qua ánh lửa bếp các em chỉ đọc qua loa được một chút. Cũng chả đào đâu ra nến. Còn điện thì lại càng xa vời.

Hoàn cảnh thế, việc các em duy trì được việc đến trường đã là cả một vấn đề lớn. Vì nhiều bậc phụ huynh thường “vặn” các thầy giáo khi họ đến vận động con em họ đi học: “Chúng nó đi nương rẫy còn kiếm được hạt gạo, miếng sắn bỏ vào nồi. Đi học lấy cái chữ về có bỏ vào nồi được không?”.

Mỗi tuần, em Mùa A Khu, ở bản Làng Sáng lại về nhà một lần để lấy gạo (chừng 3 kg) lên ăn trong cả tuần. Em bảo, cứ sau giờ học sáng thứ 6, em bắt đầu khởi hành về nhà. Khi mặt trời lặn thì mới đến bản. A Khu có tới 3 em gái và 2 em trai, chỉ mình em là được đi học. Tôi hỏi: “Đi học khổ thế này sao cháu vẫn đi?”. Thật bất ngờ cậu bé lớp 3 quả quyết: “Dù có khó khăn đến mấy cháu cũng quyết không bỏ học”!

Hôm vừa rồi, Khu đi chặt củi trên rừng chẳng may bị đứt tay, vết đứt khá sâu. Không được ai chỉ dẫn về vệ sinh, Khu vơ đại nắm đất trét vào. Khu bảo: “May là cháu bị đứt tay trái, chứ đứt tay phải là không cầm bút được”.

Sùng A Dơ nhà nghèo nhất bản Làng Sáng, bố mất sớm, mẹ già không còn sức lao động. Ngoài vài cân gạo mang đi mỗi tuần, Dơ không hề được cho thêm tiền để phòng khi ốm đau hay phải mua giấy bút. Những tuần thời tiết xấu không về nhà được là thời gian Dơ phải vay tạm bạn bè từng nhúm gạo để ăn.

Cậu học sinh lớp 3 ấy ngồi co ro trong chăn, vừa ho sù sụ vừa nói chuyện với tôi bằng cái giọng ngòng ngọng của một đứa trẻ ít có dịp ra khỏi bản: “Ở đây khổ lắm, còn khổ hơn cả nhà cháu. Cháu chẳng có gì để ăn. Mà cháu cũng không có giày dép để đi nên chân lúc nào cũng lạnh. Nhưng cháu không bỏ học đâu. Vì đi học vui lắm”.

Không chỉ có Cụm trường Trung tâm Háng Đồng mà ở nhiều cụm trường, điểm trường tiểu học ở Bắc Yên mà chúng tôi đã đi qua, những học sinh bán trú mỗi nơi đều phải nhặt chữ trong những "tổ chim" như thế. Tầm tuổi “hỉ mũi chưa sạch”, những đứa trẻ này đã phải lo toan biết bao nhiêu thứ.

Sự học của các em còn có nguy cơ... đứt gánh giữa đường vì hủ tục tảo hôn. Cứ tầm 14, 15 tuổi là bố mẹ các em cho “dạm ngõ” với trai, gái bản. Và lấy vợ, đẻ con, còn chuyện các em tiếp tục theo học chỉ là... viễn tưởng - một thầy giáo tâm sự.

“3 chàng ngự lâm” cắm bản

Thầy Lò Văn Tuấn, 32 tuổi. Sau khi học Trường Sư phạm ở Mai Sơn (Sơn La), tình nguyện lên vùng cao dạy học.Quê ở Thuận Châu cách Bắc Yên cả trăm kilômét, thầy tạm gác “chữ hiếu” để đi “trồng người” ở cái chốn rừng sâu núi thẳm. Tính đến nay là đã tròn 8 năm.

Thầy bảo, xác định lên miền núi cắm bản là phải chịu khổ. Mình là thanh niên trai tráng thì không sao, chỉ thương các em học sinh. Tí tuổi đầu đã phải đảm đương đủ mọi thứ việc. Tuy phải chịu nhiều thiệt thòi, thế nhưng những em dựng lều trọ học còn có thời gian để nhặt chữ. Chứ những em mà mỗi ngày đi bộ hàng chục kilômét đường rừng để đi học, cái chữ cũng bị rơi rụng dần.

Thời tiết ở đây quanh năm giá lạnh đã đành, nhưng kinh hoàng hơn là những cơn mưa nguồn suối lũ. Mùa lũ, nước ở những con suối lên to đến nỗi không ai còn dám lảng vảng quanh đó, lơ mơ là bị nước cuốn ngay.

Cứ mỗi lần học sinh mang cặp về nhà, các thầy lại lo thon thót. Cũng không ít lần thầy Tuấn gặp học sinh của mình nằm ngủ ngay tại bờ suối vì... nước to quá, về nhà không được mà quay lại trường thì trời tối, không nhìn thấy đường.

Những đứa trẻ thơ ngây trên đỉnh Tà Xùa.

Thầy kể, thỉnh thoảng được nghe đài, xem tivi, thầy thấy ở dưới xuôi có thông báo thời tiết mà dưới 10oC là các em học sinh tiểu học được nghỉ. Thế nhưng trên này, với nhiệt độ như thế các thầy vẫn phải lên lớp và học sinh vẫn phải đi học bình thường. “Bởi nếu không thì có mà nghỉ... cả kỳ. Chỉ những khi nhiệt độ xuống dưới 5oC thì tôi mới dám cho học sinh nghỉ học”.

Đợt rét đậm rét hại vừa rồi, thời tiết trên này thật kinh hoàng, nước ở các suối bị đóng băng hết. Những vũng nước băng đóng thành như cái chậu. Nhiệt độ xuống thấp đến mức cả thầy, cả trò không ai dám ra ngoài.

Thầy Hà Văn Quang, cũng cắm bản được gần chục năm. Thầy đã lập gia đình và có hai con nhỏ. Thầy bảo, những chiều chủ nhật tạm biệt vợ con để lên trường đôi khi chỉ muốn từ bỏ tất cả để ở lại nhà. Song thương học trò, thầy lại cất bước lên đường.

Thầy Quang nổi tiếng là người cứng rắn, song khi nghe tôi nhắc đến những bữa ăn của các em, tôi thấy thầy rớm nước mắt: “Cứ mỗi khi giảng đến bài về dinh dưỡng trong môn Tự nhiên - Xã hội, tôi lại thấy như mình có lỗi. Trong sách giảng phải ăn như thế nào cho đủ chất. Nên ăn đầy đủ thịt, cá, trứng, sữa, hoa quả, các loại rau có vitamin... Trong khi đó, học sinh ở đây chỉ quanh năm cơm không...”.

Thầy Huấn (quê Kiến Xương, Thái Bình) lúc này mới lên tiếng. “Nhà trường cũng đã liên hệ với cán bộ địa phương, xin một miếng đất để làm vườn rau cho học sinh. Chứ cứ để tình trạng như thế này thì chúng tôi đến bữa cũng chẳng nuốt nổi huống chi các em nhỏ”. Nhưng thầy bảo, những thầy giáo ở trong bản Làng Sáng còn khổ hơn nhiều...

Tôi mới hỏi chế độ của Nhà nước đối với học trò vùng cao. Thầy cho biết. Theo quy định, mỗi năm Cụm trường được hỗ trợ 2,8 triệu đồng. Nhưng với 83 học sinh của trường thì số tiền ấy chỉ đủ cho mỗi em 1 bộ quần áo!

Được biết, theo Quyết định 112 của Chính phủ “Về Chính sách hỗ trợ các dịch vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật thuộc Chương trình 135 giai đoạn II” ban hành ngày 20/7/2007 thì mỗi học sinh nghèo đi học bán trú sẽ được trợ cấp 140.000 đồng/tháng.

Quyết định này nhằm khích lệ trẻ em nghèo thêm vững tâm đi học. Nhưng sau hơn 8 tháng kể từ khi Quyết định được ban hành, những em học sinh nghèo trọ học ở toàn xã Tà Xùa vẫn chưa được nhận một đồng trợ cấp nào.

Trao đổi với báo chí, bà Lê Thị Loan (Trưởng phòng Giáo dục huyện Bắc Yên) cho biết: Phòng Giáo dục huyện đã lập danh sách những em học sinh thuộc diện 112 và gửi lên Ủy ban Dân tộc huyện, đồng thời trình lên Sở Tài chính tỉnh từ tháng 10/2007 nhưng đến nay vẫn chưa nhận được bất cứ một sự chỉ đạo nào về  vấn đề này (!?).

Chỉ còn một thời gian ngắn nữa là năm học 2007-2008 sẽ kết thúc. Vậy mà số tiền hỗ trợ của Nhà nước dành cho những học sinh dân tộc thiểu số vẫn chưa đến được với học sinh nghèo ở vùng cao Tà Xùa. Nỗi lo của những học sinh nội trú ở đây cứ tăng thêm từng ngày. Số tiền trợ cấp đến chậm một ngày là những em nội trú ở đây khổ thêm một ngày, đói thêm một ngày. Đề nghị các cơ quan có trách nhiệm quan tâm đến các em

Minh Tiến
.
.
.