Nhà viết kịch Học Phi: Số mệnh vượt thời gian
Cụ Học Phi năm nay tròn 100 tuổi. Mấy hôm nữa Hội Nghệ sĩ Sân khấu sẽ tổ chức mừng thọ cho cụ. Và trong những ngày này Nhà hát chèo Việt Nam đang rộn ràng cấp tập chuẩn bị công diễn vở "Ni cô Đàm Vân", vở diễn vang bóng một thời của lão trưởng bối sân khấu Việt Nam. Giám đốc Nhà hát Chèo cuống quýt: "Gì thì gì chứ ông cụ kỹ tính lắm, làm mà không đúng với tinh thần của cụ thì chỉ có chết".
Nhà văn Chu Lai con trai út của cụ cười xòa, an ủi: "Cụ già yếu rồi, mắt mờ, chân chậm, tay run, lãng tai rồi, chắc cũng chẳng khó tính lắm đâu". Nói đến cụ Học Phi, nhiều người nhao nhao lên bảo: "Cả đời cụ gắn với cách mạng, với Đảng, với văn học nghệ thuật, với sân khấu, và với cả huyền thoại về người đàn bà đẹp nữa". Kịch của cụ viết về con người theo lý tưởng cộng sản, là những Đảng viên ưu tú. Kịch nhưng rất đời. Cách mạng nhưng rất tình. Sức quyến rũ mãnh liệt kịch của cụ từ những cái rất đời, rất tình ấy.
Cụ sống cùng trong gia đình một người cháu gái tại khu chung cư cao cấp Trung Hòa, Nhân Chính, Hà Nội. Cụ nằm trên giường chân co, chân duỗi. Đầu cụ ngoẹo sang một bên. Già yếu thế nhưng ánh mắt vẫn tinh anh và giọng nói thì sang sảng. Giường của cụ được kê sát cửa sổ. Căn phòng đủ rộng để kê cái giường và cái bàn. Cái bàn cũng nhìn ra cửa sổ. Ngoài kia là cả một bầu trời xanh. Trên cửa sổ là những chậu cây lô hội màu xanh mát. Cụ liệt đã 6 năm nay, cả ngày chỉ quanh quẩn trong phòng và phóng tầm mắt ra ngoài khung cửa để làm bạn với mây trời và gió trăng.
Chao ôi! Nhà viết kịch lừng lẫy đây ư?! Người đàn ông đào hoa nhất làng kịch nghệ sân khấu đấy ư? Mà cũng phải thôi, nay cụ đã 100 tuổi rồi. Tuy nằm yên trên giường nhưng khi cụ cất giọng thì như có một nội lực dạt dào, đầy cảm hứng. Thì ra, khi nhắc đến nghề văn, nghề kịch cụ sôi nổi hẳn. Nghề văn nó hành hạ cụ, nhưng nó cũng cứu rỗi cụ. Vì nghề văn mà cụ bị liệt, hai chân cứng đờ. Cả chục năm nay, ngay cả khi đã ngoài 90, và cho đến tận giờ chẳng lúc nào cụ ngơi viết. Ngày nào cũng vậy, khi chuông đồng hồ điểm 7 giờ 30 sáng là cụ ngồi vào bàn hì hụi viết, mê mải với câu chuyện tình say đắm dở dang bên trang giấy cho đến giữa trưa. Mặc cái chân đau không cử động, không nhúc nhích. Chuông điểm 11 giờ cụ mới dừng bút đi ăn cơm rồi nghỉ ngơi. Để ngày mai lại tiếp tục gieo những con chữ trên cánh đồng giấy mênh mông.
Những bằng hữu một thuở của cụ đã lần lượt đi xa từ rất lâu: Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Linh, Trần Huy Liệu, Lê Giản… Giờ chỉ còn lại cụ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cụ Học Phi tuy nằm một chỗ nhưng cụ vẫn cập nhật tất cả thông tin của xã hội qua những trang báo. Sáng ra cụ đã có tập báo biếu. Từ báo Đảng, báo Đoàn, báo ngành. Cụ đọc hết và chẳng bỏ xót thứ gì. Cụ biết Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang nằm trong Quân y viện 108. Đã lâu hai người bạn tâm giao chưa được gặp nhau. Thi thoảng cụ ngước mắt lên tường nơi treo khung ảnh hai người bạn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cụ trò chuyện thân thiết bên nhau. Đó là một kỷ niệm lung linh đẹp. Cụ muốn đến thăm bạn nhưng kẹt quá, cụ đau yếu luôn luôn mà bạn thì cũng vậy. Cụ bảo, chính trong những tháng ngày nằm thế này, tất cả phần đời tươi đẹp của tuổi trẻ cứ hiện ra tươi rói, sống động như thước phim quay chậm.
Cụ Học Phi là con cầu tự của một gia đình địa chủ và nhà thì toàn các chị. Cụ là con út nên được cả gia đình cưng chiều hết mực. Cụ đỗ tú tài đầu tiên của tỉnh Hưng Yên. Cụ bảo: "Tôi vốn không phải là dân văn nghệ nhưng được Đảng đào tạo thành nhà văn, nhà viết kịch. Quê tôi có cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy. Ông nội tôi đi theo nghĩa quân nổi dậy, nên năm tôi 12, 13 tuổi đã được giác ngộ cách mạng.
Sau đó tôi tham gia phong trào yêu nước, năm 20 tuổi tôi được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm nay tôi vừa nhận huy hiệu 80 năm tuổi Đảng". Và, câu chuyện cơ duyên vào đời viết kịch được trưởng bối của ngành sân khấu rưng rưng nhớ lại:
Sau năm 1933, trong khi hoạt động cách mạng thì chàng thanh niên Học Phi bị địch bắt đi tù. Trong nhà giam tù chính trị, những chiến sĩ kiên trung ngày đó đã mở lớp dạy văn hóa, cùng nhau học tiếng Pháp, ra tù chàng thanh niên Học Phi đã viết được báo bằng tiếng Pháp. Người khơi nguồn cảm hứng cho chàng thanh niên Học Phi đến với văn học nghệ thuật là cố Tổng Bí thư Trường Chinh. Tổng Bí thư Trường Chinh lúc đó cũng bị giặc Pháp bắt giam nhốt cùng Học Phi. Thấy chàng thanh niên 23 tuổi sớm bộc lộ tư chất thông tuệ khả năng triết luận về văn hóa, văn nghệ. Dân tú tài, tâm hồn mơ mộng, lãng mạn. Tổng Bí thư bảo: "Thôi nhé, Tập (tên thật của nhà viết kịch Học Phi) nhé, khi Tập ra tù thì nên trở về với văn nghệ bởi vì văn nghệ nó có một sức mạnh rất riêng, vì văn chương cũng là vũ khí đấu tranh sắc bén của Đảng. Đảng đang cần những nhà văn có tài". Năm 1936 khi ra tù, nhờ có câu nói ấy, chàng thanh niên đầy hoài bão và mơ mộng đó trở về với văn nghệ.
Chàng lao vào đọc tiểu thuyết của Victor Hugo, Balzac, Maxim Gorki... Tiểu thuyết đầu tiên ra đời với tên "Hai làn sóng ngược" sau đổi thành "Xung đột" đăng từng kỳ trên các báo. Rồi lần lượt các tiểu thuyết khác nối tiếp nhau: “Đắm tàu”, “Dòng dõi”, “Yêu và thù”. Đến năm 1944, Học Phi mới bắt đầu viết vở kịch đầu tiên.
Năm đó, Trường nữ sinh Đồng Khánh ở Hà Nội về tản cư ở Hưng Yên, nhà trường thành lập mấy tổ học sinh cứu quốc. Một buổi chiều có hai nữ sinh gõ cửa nhà Học Phi nhờ ông viết vở kịch tuyên truyền cho phong trào yêu nước. Lần đầu tiên đặt bút viết kịch, Học Phi lúng túng nhìn lên trời. Xa xa trên quả đồi là ngôi đền nhỏ thờ một đào nương. Khi xưa giặc Minh sang xâm lược nước Đại Việt, người con gái đó đã hằng đêm ngồi trên bờ thành cất tiếng đàn hát nỉ non, lời ca ai oán, thảm sầu, thương cha, khóc mẹ, nhớ vợ dại, con thơ làm lay động quân giặc. Những tên lính giặc trốn về quê. Rồi chúng tự tan rã. Học Phi thương cảm người ca nương tài sắc vẹn toàn mới viết một câu chuyện đầy huyền thoại hư cấu. Nguyễn Trãi đưa ca nương về Đông Quan. Kịch có duy nhất một màn. Nhưng, tiếc thay về sau vở kịch không được diễn. Gần nửa thế kỷ sau, cho đến tận năm 1980, nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi, cụ Học Phi mới viết lại vở kịch làm thành 5 màn. Kịch "Đào nương" khi xưa nay đổi tên thành "Người kỹ nữ thành Đông Quan".
|
| Nhà viết kịch Học Phi cùng với các nghệ sĩ chèo Việt Nam. |
Trong giai đoạn Cách mạng Tháng Tám, Đảng phân công Học Phi tham gia xây dựng Hội Phật giáo cứu quốc Việt Nam. Trong thời gian hoạt động cách mạng bí mật, Học Phi lưu trú trong rất nhiều ngôi chùa, chính vì thế cảm hứng sáng tác của ông bùng lên và ông viết vở kịch "Cà sa giết giặc". Sau này, nhân kỷ niệm một năm ngày Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 2-9-1946 tại Nhà hát Lớn, kịch "Cà sa giết giặc" được công chúng đặc biệt hoan nghênh. Điều đặc biệt, tất cả diễn viên đóng kịch là những nhà tu hành tại các ngôi chùa. Năm 1961, khi về hưu cụ Học Phi mới trở lại viết tiểu thuyết.
Cả cuộc đời viết kịch của cụ gắn liền với cách mạng, với công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Viết về cải cách ruộng đất, nhà viết kịch tiền bối có vở "Chị Hòa". Phục vụ Đại hội Đảng lần thứ III, viết về người cộng sản có vở "Một đảng viên". Rồi sau này có những tác phẩm kịch trữ tình, ăm ắp lãng mạn, đầy chất thi ca như: "Ni cô Đàm Vân", "Cô hàng rau", "Hoàng Lan" của cụ rất ăn khách. Điều đáng nói những vở kịch ăn khách của cụ đều trên một mô típ toàn các vai nhân vật là đảng viên cộng sản.
Nhiều người khẳng định chắc chắn rằng: Thực chất, người cộng sản hoàn toàn không khô cứng. Nhân vật cộng sản của cụ Học Phi chính là cụ Học Phi. Rất đa tình và cũng rất nỗi niềm, nhiều trăn trở, lắm giằng xé. Có hy vọng, có tuyệt vọng. Có yếu đuối và có can trường. Người cộng sản không khác gì người thường, thậm chí còn có nỗi niềm hơn người thường. Người cộng sản của cụ Học Phi không nói một câu nào cứng cả, chủ yếu cụ mượn mô típ cộng sản để tôn vinh tình yêu và nỗi niềm con người, thành ra rất gần con người. Thậm chí con người hơn cả con người. Cho nên cụ viết về người cộng sản mà lại cứ ăn khách.
Cụ Học Phi được Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Hồ Chí Minh. Quả thật, trong các tác phẩm kịch của cụ, chẳng khó gì không nhận ra, phần lớn nhân vật của cụ đều là nữ. Cụ bảo: "Vai trò của người phụ nữ trong giải phóng dân tộc rất lớn, họ có nhiều người có câu chuyện rất éo le…". Cụ ngừng lời rồi khẽ nói: "Tuy kịch đình đám thế thôi chứ vở nào ra cũng bị đập. Đập tơi tả, rất là vất vả. Vì là họ cứ hiểu lầm".
Ngay vở "Một đảng viên" là vở viết về Đảng, sau khi vở kịch công diễn, báo Nhân dân hồi đó viết: "Trong Đảng thiếu gì những gương chiến sĩ cộng sản lỗi lạc mà lại lấy nhân vật chính là anh công nhân có người anh làm chỉ điểm mật thám, còn người yêu thì bố lại là tên ác ôn…". Họ phê phán gay gắt lắm, ông nói: "Nhưng không xung đột, không cao trào, không giằng xé, không thế thì làm gì có kịch?!". Báo Nhân dân phê phán trước, các báo phê phán sau, vở kịch lao đao một thời gian. Sau này có vài đạo diễn Liên Xô sang sau khi xem vở kịch đã đánh giá rất cao và họ mời các nghệ sĩ Việt Nam đi lưu diễn vở kịch này ở Liên Xô. Kịch của cụ Học Phi được minh oan. Và người ta lại có cái nhìn khác.
Vợ cụ Học Phi thuộc giới thượng lưu, là con quan án sát của tỉnh Hưng Yên. Khi bước chân về làm vợ, bà dạy chồng tiếng Pháp. Giai thoại về những cuộc tình lãng mạn đầy mơ mộng của cụ Học Phi với các mỹ nhân của đất Hà Thành nhiều vô kể. Cụ Học Phi khi làm Giám đốc Nhà hát Kịch Việt Nam đã từng say đắm, mê mệt hai kiều nữ sân khấu đình đám lúc bấy giờ là Trúc Quỳnh và Bích Châu. Cả hai đều là giai nhân tuyệt sắc của làng sân khấu lúc bấy giờ. Và cả thực hư về câu chuyện tình đẹp như tranh với người con gái út của Bạch Thái Bưởi, một đại thương thuyền Bắc Việt.
Mối tình ấy mãnh liệt đến độ, người con gái đó đã xuống tận Hưng Yên, dừng lại tại căn nhà của người vợ Học Phi thổn thức: "Chị nhường anh ấy cho tôi, tôi sẽ nhường lại cho chị toàn bộ đồn điền cao su ở Tây Nguyên". Người ta vẫn thì thầm to nhỏ rằng: Dòng họ Chu là dòng họ rất đa tình. Nhưng có một điều kỳ lạ là giăng gió vậy mà tất cả các con trong họ tộc nổi tiếng đào hoa ấy không một ai bỏ vợ. Bởi gia tộc ấy đã được giáo huấn, người đàn bà vợ mình không có lỗi gì mà mình bỏ người ta thì mình tan nát trước. Đấy là tâm hồn văn nhân. Không nỡ làm ai khổ.
Cụ bà mất cũng đã 15 năm. Cụ Học Phi sống những năm tháng cuối đời với sự đau thương khôn cùng. Không có gì bi thảm bằng một người đàn ông cứ ngồi nhìn 8 người con của mình lần lượt ra đi. Cụ có 10 người con, mất 8 người giờ chỉ còn lại có hai. Một người con gái và nhà văn Chu Lai là út. Cụ bảo: "Tôi có hai thằng con liệt sĩ. Thằng đầu hy sinh ở Buôn Mê Thuột. Thằng thứ hai hy sinh ở Yên Bái. Hai đứa con khác mất khi Tây càn vào làng xả súng giết dân, năm đó hai đứa nhỏ mới lên 8, lên 9. Còn mấy đứa sau này do đau bệnh mà chết. Hồng Phi cũng đau bệnh vừa mới mất xong".
Cụ nói rồi lặng đi, từ khóe mắt rỉ ra giọt nước. Tôi nhìn một tờ giấy treo trên tường cạnh bàn làm việc của cụ là một dòng chữ tiếng Pháp được viết bằng mực Tàu, dịch là: "Hãy vượt lên trên những nấm mồ để sống". Cụ nói: "Sáu năm nay liệt chân, tôi không đi lại được nữa. Liệt chân khổ lắm. Mọi sinh hoạt đều tại chỗ. Tôi sinh ngày 18/2/1913, tính ra tuổi ta là 100 chứ tuổi tây thì sang năm mới đến. Sống đến giờ cũng đã là bằng trời, bằng đất rồi…"
