Người được mệnh danh là “Ôxtrôpxki của Việt Nam”
Trong những năm tháng mở đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam và xây dựng CNXH ở miền Bắc, cuốn tiểu thuyết "Thép đã tôi thế đấy" của nhà văn Xôviết N. Ôxtrôpxki đã trở thành cuốn sách gối đầu giường, là một trong số những hành trang không thể thiếu của thế hệ thanh niên Việt Nam thời đó. Điều vĩ đại của cuốn sách này là ngoài nội dung tư tưởng còn là tấm gương phi thường của N. Ôxtrôpxki, bị liệt nửa người vẫn kiên cường chống chọi với bệnh tật để viết nên những trang bất hủ.
Ở Việt Nam, cũng có một chiến sĩ bị thương nặng nhưng đã tự học tiếng Nga để trở thành dịch giả nổi tiếng, đó là Phạm Hồng Sơn.
Anh thương binh nằm trên giường bệnh học tiếng Nga, dịch sách
Đó là chuyện có thật xảy ra vào những năm 50-60 của thế kỷ trước ở Việt Nam. Không phải huyền thoại. Cũng như trường hợp N.Ôxtrôpxki ở Nga nằm trên giường bệnh viết "Thép đã tôi thế đấy". Ở Việt Nam, Phạm Hồng Sơn, người nằm trên giường bệnh học tiếng Nga để dịch sách, anh nguyên là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307 anh hùng, chiến đấu suốt bao năm trên các chiến trường Nam Bộ Việt Nam.
Chuyện thực đó đã được báo chí phản ánh rộng rãi vào những năm 60. Báo chí Liên Xô, Đài Phát thanh Mátxcơva lúc đó cũng đã đưa tin rộng rãi đến bạn đọc Xôviết.
Cần nói thêm, một cán bộ của Đài Phát thanh Mátxcơva lúc đó lại là đội viên cũ trong Tiểu đoàn 307 anh hùng do Phạm Hồng Sơn chỉ huy. Người đó là Platon Ivanovitr Xkriginxki - Thành (1928 - 2004). Platon - Thành đã viết thư từ Mátxcơva cho chỉ huy cũ của mình ở Hà Nội, rồi lại trực tiếp dịch bài phóng sự của phóng viên Đài Phát thanh Mátxcơva đang có mặt ở Hà Nội, đến thăm Phạm Hồng Sơn, viết gửi về Đài.
Anh thương binh hạng nặng Phạm Hồng Sơn trở thành dịch giả, cộng tác viên của nhiều nhà xuất bản ở Hà Nội: NXB Kim Đồng, NXB Văn hóa (Viện Văn học), NXB Văn học, NXB Quân đội nhân dân... Chỉ có điều trong số sách Phạm Hồng Sơn dịch và được xuất bản không có tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy”. Nhưng quả thực Phạm Hồng Sơn lại được mệnh danh là Ôxtrôpxki của Việt Nam.
Sinh ra ở làng Chuông, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, Phạm Hồng Sơn ra Hà Nội học. Học dở dang khoa Luật, anh giác ngộ cách mạng thoát ly đi hoạt động bí mật.
Trong Cách mạng tháng Tám anh tham gia giành chính quyền ở thủ đô Hà Nội. Tháng 10/1945, anh vào bộ đội Vệ Quốc đoàn. Tốt nghiệp Trường Quân chính Bắc Sơn, anh sĩ quan trẻ Phạm Hồng Sơn được cử vào công tác ở Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam.
Năm 1948, Phạm Hồng Sơn được tham gia và làm Bí thư chi bộ Đảng của Phái đoàn quân sự do Trung ương cử vào Nam Bộ công tác.
Một thời gian sau anh được chuyển sang đơn vị chiến đấu và được cấp trên chỉ định là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307. Tiểu đoàn 307 nổi tiếng, từng giáng cho bọn thực dân Pháp vùng đồng bằng sông Cửu Long những đòn chí mạng, khiến cho chúng mỗi khi nghe đến tên Tiểu đoàn 307 đều khiếp vía kinh hoàng.
Trong trận chiến đấu ác liệt tại Long Châu Hà ngay trước khi chiến tranh kết thúc, người tiểu đoàn trưởng dũng cảm đã bị trọng thương. Tập kết ra miền Bắc, mặc dù được các bác sĩ tận tình chữa trị, nhưng vết thương quá hiểm đã cột Phạm Hồng Sơn vào giường bệnh suốt 13 năm trời. Anh bị liệt nửa thân phía dưới, hai chân teo quắt, cơ thể lở loét, vệ sinh riêng hoàn toàn không làm chủ được.
Phạm Hồng Sơn bước vào một trận tuyến mới vô cùng ác liệt mà trận địa là giường bệnh. Phải làm gì trong những năm tháng còn lại của đời mình? Phạm Hồng Sơn tự hỏi. Phải cống hiến, cống hiến bằng tất cả sức lực và trí tuệ còn lại cho xã hội, mang lại lợi ích cho mọi người. Anh cũng tự trả lời.
Có vốn văn hóa, ngoại ngữ Anh, Pháp, Phạm Hồng Sơn lại quyết tâm tự học thêm tiếng Nga. Một cuộc vật lộn vô cùng gian khổ của Phạm Hồng Sơn đối với vết thương, với bệnh tật và với thứ ngôn ngữ khó khăn phức tạp như tiếng Nga. Một lần nữa anh lại chiến thắng. Nằm trên giường bệnh, Phạm Hồng Sơn bắt tay vào dịch sách.
Trong hồi ký được công bố sau khi anh qua đời năm 1967, anh đã viết: “Tôi tìm đọc một số truyện thiếu nhi, chọn lấy những truyện hay để dịch, phục vụ các em. Ước mơ dạy học không thành thì bây giờ dịch truyện cũng là một cách đóng góp vào việc vun đắp những mầm non của đất nước. Một tập gồm có 4-5 vở kịch thần thoại được tôi chú ý hơn cả. Tôi bắt tay vào dịch, trân trọng gọt giũa từng chữ, từng câu, mong sao những trang sách mình dịch đến được tay các em. Dịch xong 150 trang, tôi nhờ anh bạn thương binh mang đến tận nhà xuất bản (NXB) và ngong ngóng chờ đợi kết quả.
Ít lâu sau NXB trả lại tôi tất cả 5 vở kịch mà tôi đã cặm cụi dịch mấy tháng liền, kèm theo những nhận xét như sau: nội dung những vở kịch có ý nghĩa giáo dục tốt, dịch cũng tạm được, nhưng cách bố cục rườm rà nên các em thiếu nhi ta không có điều kiện đưa lên sân khấu. Qua những lời nhận xét ấy tôi thấy mình dịch chưa được tốt, nhưng anh em ở NXB thông cảm với hoàn cảnh bệnh tật và sự cố gắng của mình nên nói vậy để khích lệ mình thôi”. (Người chiến sĩ, NXB Thanh niên, 1977, trang 96-97).
Phạm Hồng Sơn đã kiếm những bản dịch của người khác, đối chiếu với nguyên bản Nga văn để học tập cách dịch của họ. Rồi “nhân đọc một số truyện thiếu nhi anh lựa những truyện làm cho anh rung cảm hơn cả như “Lời hứa danh dự”, “Con dao của người chiến sĩ”, “Tiếng trống trận” và bước vào một cuộc thử thách mới. Tất cả được hơn trăm trang. Dịch xong anh lại gửi đến những NXB và hồi hộp chờ đợi kết quả. Cuối cùng anh được NXB trả lời: “Có một số truyện có thể sử dụng được”.
Năm 1959, NXB Kim Đồng đã ra cuốn sách “Lời hứa danh dự”, truyện của tác giả Nga - Xôviết L. Panteleev, bản dịch Phạm Hồng Sơn. Anh thú nhận: “Đối với người khác, dăm bảy chục trang dịch có lẽ chẳng có nghĩa lý gì, nhưng đối với tôi đó là một chân trời hy vọng. Nó mở ra một con đường để tiến vào chiếm lĩnh trận địa mới, tiếp tục cuộc chiến đấu bỏ dở. Nhất định sẽ còn không ít chông gai trở ngại, nhưng tôi sẽ mạnh dạn bước tới vì đó là con đường sống của tôi. Quay trở lại tôi sẽ rơi vào vực thẳm của một cuộc sống tàn tạ, một cơn hấp hối kéo dài đầy dằn vặt”.--PageBreak--
Mỗi bản dịch là một chiến công của nghị lực
Và Phạm Hồng Sơn xốc tới, anh gửi thư không chỉ đến NXB Kim Đồng, mà còn gửi thư đến NXB Quân đội nhân dân, NXB Văn hóa (Viện Văn học), NXB Văn học... đề nghị được giao sách để dịch.
Ngày 9/7/1959, lần đầu tiên Phạm Hồng Sơn gửi đến NXB Văn hóa kèm theo bản dịch thử tác phẩm “Lịch sử chiếc máy kéo của Xtalingrat”, in trong tập “Honimesi, jeyer Vigilants” của J. Fucik.
Anh giới thiệu nội dung câu chuyện mình dịch và tự giới thiệu về mình: “Tôi là một thương binh phải nằm liệt một chỗ, cũng chưa từng dịch sách bao giờ và cũng không rõ câu chuyện này đã có ai dịch chưa. Thấy nó có tác dụng tốt là tôi đánh bạo dịch và gửi các đồng chí xem có thể sử dụng xuất bản được không. Chắc cũng có nhiều thiếu sót mong các đồng chí chỉ dẫn cho để tôi rút kinh nghiệm”. Cuối thư anh ghi rõ địa chỉ liên lạc của mình: Hồng Sơn, Thương binh, Hòm thư 7890KN, Hà Đông.
Và có thêm tái bút: “Sở dĩ tôi không gửi kèm theo bản tiếng Pháp tới các đồng chí được vì sách tôi cũng mượn của thư viện”.
Miệt mài, kiên trì, vừa gửi một bản dịch thử này đi, không chờ kết quả, Phạm Hồng Sơn lại tìm đọc một tác phẩm khác có trong chương trình gợi ý của NXB và lại bắt tay vào thử dịch xem sao. Hết tác phẩm "Những người sống và những người chết" của K.Ximonov, tiểu thuyết "Ngày và đêm" cũng của K.Ximonov, lại đến truyện vừa "Vài ngày" của A.Bech, rồi tuyển truyện ngắn của A.Tsekhov...
Biết lượng sức mình, trong thư trao đổi với Ban biên tập NXB, Phạm Hồng Sơn nhiều lần chủ động đề xuất phương án mời cộng tác viên khác cùng dịch chung với mình.
Trong thư đề ngày 8/6/1961, Phạm Hồng Sơn đề nghị NXB cho được cộng tác với dịch giả Phan Trọng Ngôn mà anh còn biết tên khác của dịch giả này là Trọng Phan. Tuy chưa được gặp Phan Trọng Ngôn - Trọng Phan nhưng Phạm Hồng Sơn đã đánh giá tốt, “có phần tâm phục khẩu phục” dịch giả này qua những nhận xét của người ấy với bản dịch thử của bản thân anh.
Năm 1963, NXB lại nhận được thư của một dịch giả khác, Nguyễn Nhất Thẩm, một người được đào tạo tiếng Nga ở lớp tiếng Nga khóa 1950 - 1951 tại Bắc Kinh - Trung Quốc. Nguyễn Nhất Thẩm cho biết đã trao đổi với Phạm Hồng Sơn về việc hai người sẽ cộng tác dịch tập truyện ngắn A.Tsekhov cho kế hoạch của NXB.
Rồi dự kiến xin dịch tiểu thuyết "Hậu phương xa xôi" của Borix Polevoi, Phạm Hồng Sơn mời nhà văn kiêm họa sĩ Thi Ngọc cùng cộng tác. Trong việc dịch cuốn "Ngày và đêm" của K.Ximonov, anh có nguyện vọng được cộng tác với Bùi Khánh Thế và một người khác tên là Phụng. Cả hai đều là phiên dịch của Trường đại học Tổng hợp và đều đã có sách dịch được xuất bản.
Lúc này đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn trắng trợn xóa bỏ việc thi hành Hiệp định Giơnevơ, đẩy mạnh việc thôn tính miền Nam Việt Nam, cả nước sôi sục ủng hộ cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam thống nhất Tổ quốc...
Phạm Hồng Sơn tâm sự: “Tôi khao khát muốn được cầm súng chiến đấu dưới lá cờ Giải phóng cũng như năm nào tôi đã được đứng dưới lá cờ Thành đồng. Nhưng lòng khao khát đó tôi chỉ được thỏa mãn trong những giấc mơ ngắn ngủi. Giờ đây tôi chỉ còn biết mang hết tâm lực ra dịch những trang sách mong được đóng góp chút ít vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Tôi mong ước bạn đọc sẽ tiếp thu được cái khí thế hừng hực trên các công trường nhà máy của đất nước Xôviết trong những ngày Cách mạng tháng Mười mới thành công, cái khí thế mà Fuxich đã truyền đạt lại trong tập "Con người hãy sáng suốt". Tôi ước mong các bạn đồng đội của tôi trên những con đường tiến lên chính quy sẽ rút được những kinh nghiệm về tác phong lãnh đạo và chỉ huy của các sĩ quan Hồng quân Liên Xô ưu tú trong các tác phẩm "Vài ngày", "Đội dự bị của tướng Pang-phi-lốp", "Ngày và đêm"...
Tôi lao vào dịch hết truyện nọ đến truyện kia với khí thế hăm hở chưa từng có. Giờ đây những lá thư của NXB gửi đến, báo cho biết một tác phẩm tôi dịch đang được đưa lên bàn in, hoặc giao cho tôi dịch một truyện mới, đều là niềm an ủi lớn nhất với tôi. Qua những trang sách dịch tôi cảm thấy mình gắn bó hơn với cuộc sống bên ngoài. Chút lao động bé nhỏ đã mang lại cho tôi niềm hạnh phúc lớn lao của con người, hạnh phúc được mang sức mình ra đóng góp cho xã hội”...
Phạm Hồng Sơn tự cho những cố gắng của mình để có được hàng loạt bản dịch in ra sách ở các NXB lúc ấy chỉ là “chút lao động nhỏ bé”.
Giờ đây bồi hồi ngồi trước những di cảo của anh để lại, nằm đấy đã gần nửa thế kỷ, nhớ đến hàng loạt tên sách mà bản dịch đứng tên Phạm Hồng Sơn được xuất bản cũng đã ngót nghét trên 40 năm trước: những "Lời hứa danh dự", L. Panteleev, NXB Kim Đồng 1959, "Mặt trời trên thảo nguyên", P. Paplenco, NXB Kim Đồng 1960, "Những mẩu chuyện về Tsapanev", NXB Kim Đồng 1960, "Vài ngày", A. Bech, NXB QĐND 1961, "Đội dự bị của tướng Pangphilov", NXB QĐND 1962, "Khuất Nguyên", NXB Văn hóa, 1960, "Ngày và đêm", K. Ximonov, NXB Văn học, 1963, "Suối Thép", A. Xeraphimovi, NXB Văn học 1965, "Viết dưới giá treo cổ", J. Fuxich, NXB Văn học 1966... thì tất cả ngần ấy đâu có phải là “chút lao động nhỏ bé”. Đó là cả một sự cống hiến không ngừng.
Nếu lại có thể hình dung ra những tác phẩm dịch ấy đã được làm nên như thế nào, thì biết có lời nào diễn tả cho hết lòng kính phục, ngưỡng mộ?
“Những ngày hè oi bức, sờ tay vào thành giường cũng thấy nóng, huống hồ nằm trên đệm bông, màn phủ kín. Mồ hôi nhễ nhại, tôi lấy khăn mặt nhúng nước đắp lên người và cứ thế nằm cặm cụi dịch hết trang này qua trang khác, quên cả cái nóng bức bên ngoài. Do hoàn cảnh bệnh tật mấy năm nay tôi phải nằm nghiêng mình nên khi viết cũng phải nằm nghiêng như vậy, một tay cầm chiếc bìa cứng giơ ra trước mặt để lót, một tay cầm bút viết. Lúc đầu chưa quen chỉ được một lúc là lại mỏi rời. Nhưng dần dần cũng quen và bị lôi cuốn vào công việc, tôi có thể nằm nghiêng như vậy viết suốt ngày, mỗi ngày khoảng chín mười giờ, có khi mười hai, mười ba giờ” - Phạm Hồng Sơn đã viết những dòng như vậy trong hồi ký của mình.
Tôi viết bài này để một lần nữa bày tỏ lòng ngưỡng mộ, biết ơn trước một người đã hiến cả tuổi trẻ, một phần xương máu cho sự nghiệp giành độc lập dân tộc, lại nêu tấm gương kiên nghị phi thường, vượt bao nhiêu trở ngại khó khăn do thương tật, không cam chịu sống một đời tàn tạ, mà đẩy lùi lưỡi hái tử thần, cống hiến những sức lực cuối cùng cho tương lai xã hội, thực sự là đã lập thêm một “chiến công hiển hách”. Những con người như vậy không bao giờ có thể bị quên lãng
