Làng gas tự nhiên ở Trà Vinh

Thứ Hai, 01/09/2008, 11:10
Cách đây hơn 6 năm, một hộ dân ở Phú Đức 2 thuộc xã Bình Phú, huyện Càn Long, tỉnh Trà Vinh trong quá trình khoan giếng để lấy nước sử dụng thì bất ngờ phát hiện ra khí gas ở miệng giếng khoan bốc lên. Sau nhiều tháng bỏ giếng vì không biết làm gì, cuối cùng hộ dân này cũng đã biết cách dẫn khí gas từ giếng vào nhà để sử dụng.

Một đồn mười, mười đồn trăm, hiện tại hầu hết các hộ trong xã đã sử dụng nguồn khí gas tự nhiên này làm chất đốt. Không chỉ ở Phú Đức 2 mà Phú Đức 1 cũng đã bắt đầu xuất hiện khí gas tự nhiên...

Xã Bình Phú nhiều năm nay bỗng nổi tiếng vì chuyện có làng gas tự nhiên độc đáo nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long. Hôm chúng tôi đến UBND xã nhờ hướng dẫn để thu thập tư liệu cho bài viết thì chủ tịch xã đi vắng. Nhưng vẫn kịp gọi điện thoại “cử” hẳn một phó chủ tịch hướng dẫn. Anh phó chủ tịch xã trẻ măng vừa dẫn đường vừa nói: “Cái chuyện dân xài gas tự nhiên này ở quê mình hồi trước ngộ lắm. Cứ tưởng là chuyện tâm linh, nhưng giờ thì quen rồi.

Hồi đó, chiều chiều bà con đi làm ruộng về là lo nhặt thêm củi hoặc phơi rơm làm chất đốt. Còn giờ khỏe re, gas tự nhiên cứ việc xài không phải tốn tiền”. Từ UBND xã, men theo đường quốc lộ theo hướng Trà Vinh về Vĩnh Long, quẹo vào con đường nhỏ lót bê-tông một quãng xa mới tới vùng Phú Đức 2.

Ở Phú Đức 2 gần như nước sinh hoạt chỉ dựa vào con kênh chạy qua ấp, nhưng nước của con kênh này thì không thể dùng cho việc nấu nướng. Dành dụm được ít tiền, anh Nguyễn Đức Hiệp quyết định mướn thợ khoan giếng để tìm nguồn nước sạch. Độ sâu của giếng nước khoan cứ sâu dần, 30m, 40m, rồi 50m... Nhiều người nói, với địa chất ở đây thì phải khoan sâu hơn 100m thì mới có thể có nước sạch. Tuy nhiên, vừa qua độ sâu 50m thì đám thợ khoan giếng hoảng hồn vì luồng khí gas dưới lòng đất phun mạnh lên.

Không thể tiếp tục việc khoan giếng, những người thợ khoan kéo nhau đi, bỏ mặc gia đình anh Hiệp “chết đứng” vì luồng khí gas cứ phun thẳng như cây cột từ độ sâu hơn 50m lên mặt đất. Nhiều ngày liền trôi qua, cả nhà mất ăn mất ngủ vì hiện tượng này. Cho đến khi, anh Hiệp quyết định thử dẫn khí gas vào nhà dùng xem nó thế nào.

Anh Hiệp dùng xô nhựa úp lên miệng giếng, khoan lỗ nhựa trên cái xô rồi dẫn khí gas theo đường ống nhựa vào bếp. Trên đầu ống nhựa, anh bắt 2 van bằng đồng (có công tắc mở - khóa). Mỗi lần trong nhà muốn nấu nướng, chỉ cần mở khóa van, đưa lửa ngay miệng van để đốt khí gas thì có thể thoải mái dùng... Nhiều gia đình trong vùng, nghe chuyện dùng gas không tốn tiền của nhà anh Hiệp cũng nôn nao muốn khoan giếng... tìm gas thử, nhưng họ cứ e dè chuyện gas có thật sự an toàn hay không nên vẫn còn chần chừ. Mãi cho đến nhiều năm sau, khi thấy gia đình anh Hiệp dùng gas tự nhiên không ảnh hưởng gì đến sức khỏe thì các hộ dân trong vùng mới bắt đầu làm theo. Hơn 6 năm nay, nguồn gas này vẫn chưa có dấu hiệu suy giảm về trữ lượng.

Tuy nhiên, cái cách mà anh Hiệp dẫn khí gas từ miệng gas vào bếp để sử dụng làm cho nhiều người lo ngại về mức độ an toàn. Hơn nữa, lượng gas đi vào ống dẫn không đều, nên lửa có lúc mạnh lúc yếu. Nhưng biết làm sao, khi mà người nông dân “nhặt” được gas trời cho chỉ biết có thế. Phải hơn 1 năm sau, đường ống dẫn khí gas mới được hoàn thiện do phát kiến của anh nông dân khác có tên Huỳnh Kim Tố. Và cách dẫn gas này được người dân nơi đây làm theo và sử dụng cho đến giờ.

Anh Huỳnh Kim Tố nghề nghiệp chính vẫn chỉ là làm ruộng. Thỉnh thoảng đi bẫy cu cườm ở vùng Nhị Long, thấy người dân nơi đây cũng “nhặt” được gas từ dưới lòng đất nhưng có cách dử dụng “khoa học” hơn. Sau nhiều ngày quan sát đường ống dẫn khí tại nơi này, anh về suy nghĩ và phát triển thêm “công trình” dẫn gas từ giếng khoan vào nhà. Nói là “công trình” cho đúng cái chất người dân nơi này kể lại, chứ thật ra, công lớn nhất của anh Huỳnh Kim Tố là phát hiện ra nếu đựng gas vào trong bịch nilon vừa dày, vừa dài thì có thể sử dụng lâu và bình ổn hơn. Nguyên tắc này rất đơn giản, gas từ lòng đất theo đường ống vào túi nilon (loại thường dùng để phơi nông sản của người dân bịt kín hai đầu). Mỗi khi cần nấu nướng gì, gas từ túi nilon sẽ theo đường ống dẫn vào bếp. Với cách giữ gas này, gas cho lửa đều và lâu hơn. Nếu như túi đầy căng, có thể xả bớt gas bằng cách dùng ống nhựa luồn một đầu vào bịch nilon chứa gas, đầu kia của ống nhựa cho vào bình nhựa đựng nước. Cứ thế, lượng gas dư sủi thẳng xuống nước và bốc hơi đi.

Bình chứa khí gas trong nhà anh Nguyễn Đức Hiệp.

Ông Đặng Văn Bảy, Trưởng ấp Phú Đức 2 cho biết thêm: “Cái chỗ giếng khoan phát hiện khí gas nhà anh Hiệp ngày trước trữ lượng lớn lắm. Vì khi chưa đưa gas vào sử dụng, thì lực ép của gas khiến một số chỗ gần miệng giếng khoan bị nứt đất. Nhìn vào vết nứt thấy khí gas bốc lên nhàn nhạt, bật quẹt châm vào thì phựt lửa lên ngay”. Sau ngày nhà anh Hiệp dùng gas mà không phải tốn tiền, nhiều nhà dân trong ấp cũng bắt đầu khoan giếng để... tìm gas.

Rời khỏi nhà anh Hiệp, ông trưởng ấp tiếp tục hướng dẫn chúng tôi đến những nhà lân cận. Nhà ông Nguyễn Văn Banh kế bên có 6 nhân khẩu. Cách đâu hơn 2 năm, ông thuê người khoan giếng để lấy nước sinh hoạt, nhưng cũng như hộ của anh  Hiệp thì tìm được nguồn khí gas.

Theo cái cách mà anh Huỳnh Kim Tố hướng dẫn, ông Banh cũng cho khí gas vào bịch nylon để dành. Nhưng dẫu nhà có đến 6 người thì lượng gas tự nhiên trào từ lòng đất lên vẫn dư rất nhiều. Không thể xả ống gas liên tục, ông bèn nối hơn 20m ống nhựa dẫn gas ra khu vực phía trước nhà cho người thân xài.--PageBreak--

Chị Vân, con gái đầu của ông Banh nói nhà chị khoan xuống lòng đất khoảng 80m thì thấy khí gas. Gas mạnh lắm, rút ống xả ga từ đầu bịch trữ gas thổi vào tay nghe mát lạnh. Chúng tôi đã thử và thấy đúng như lời chị nói, gas thổi từ đầu ống nhựa vào da bàn tay mát lạnh, rất mạnh như bị đè nén lâu ngày.

Chị Vân cho biết thêm có hôm gas mạnh đến bất ngờ, vừa châm lửa bếp để đốt gas thì lửa phụt cháy cả tóc. Loại gas tự nhiên này không có mùi khó chịu như gas đựng trong bình đặc dụng được bày bán trên thị trường, nó hoàn toàn không mùi.

Chúng tôi hỏi chị Vân là có bao giờ chị nấu mà cạn lượng gas, phải chờ thời gian để gas bơm đầy bịch dự trữ lại không. Chị nói rất ít khi gas cạn, ngoại trừ nếu nấu những thứ thức ăn lâu chín như hầm bắp chẳng hạn, lượng gas có yếu đi nhưng nhanh chóng mạnh trở lại. Đặc biệt là vào mùa mưa, gas rất mạnh. Nguyên nhân của chuyện gas mạnh có thể là do mưa, đất không nứt nẻ nên gas không thể thoát đi được.

Nhưng cái chuyện gas nhà ông Banh mạnh chưa thấm vào đâu so với lượng gas của nhà ông Sáu Vị, ở Phú Đức 1 dò được cách đây 3 năm. Ông Trường Sơn, một trong những người chứng kiến lần dò được lượng gas mạnh kỷ lục đó kể. Khi mà dàn khoan do nhà ông Sáu Vị mướn để khoan giếng vừa khoan được đến độ sâu khoảng 50m, thì bất ngờ lượng gas dưới lòng đất phụt mạnh lên trời đẩy tung toàn bộ dàn khoan bao gồm cả máy khoan nặng vài trăm ký bay bổng lên không trung. Gas tạo thành vòi, phun lên ngùn ngụt với sức đẩy khủng khiếp. Hoảng quá, ông Sáu Vị dùng tấm đan được đổ bằng bê-tông rất dày che miệng hố gas lại nhưng không thể được vì gas cứ đẩy tấm đan bạt đi. Phải nhiều ngày sau, lượng gas mới giảm bớt. Nhưng lúc này, gas xẻ dọc đất quanh miệng hố gas khá nhiều vết nứt. Từ những vết nứt đất, gas phun trào như vòi nước rửa xe, rất mạnh.

Không biết cách nào để tiêu thụ lượng gas ngoài ý muốn này, ông Sáu Vị bày ra trò “độc nhất vô nhị” trong vùng. Ông rà theo từng vết nứt đất có phun trào khí gas ra, gắn vào đó những ống đồng nhỏ, rồi kêu gọi bà con trong ấp cứ việc gác chạc ba tạo bếp mà nấu nướng. Hàng chục cái bếp tạm được quây trong vườn nhà ông Sáu Vị để... xài gas giúp chủ nhà. Rất lâu sau, lượng khí gas ở các vết nứt đất này mới yếu đi.

Trở lại câu chuyện gas tự nhiên tại Phú Đức 2, chúng tôi hỏi ông Bảy, người cao tuổi tại khu vực này thử cho một lý do mà theo ông là lời giải cho hiện tượng gas tự nhiên trên. Ông Bảy nói ông cũng không dám chắc là suy luận của mình đúng không, nhưng gia đình ông đã ở vùng đất này từ nhiều đời nay và qua những câu chuyện của cha ông kể lại, ông có thể mường tượng đôi chút câu hiện tượng “khoan giếng ra gas”.

Ông Bảy nói vùng này cách đây hơn trăm năm toàn cây và bùn đất. Cha ông kể ngày đó ít người dám đi lại trên đường làng vào ban đêm, vì dưới ruộng, sình cứ sủi lên ồng ộc như bong bóng vỡ. Sủi suốt ngày suốt đêm như thế, người dân ban đầu sợ nhưng sau đó quen dần và gọi sình sủi là “đất chớp”. Các cánh đồng lúa cho năng suất lúa rất thấp, không hiểu lý do vì sao. Ở bên trên là cây lúa mọc, bên dưới sình cứ “bập bõm” nổi sóng hằng ngày. Qua nhiều năm nhờ phù sa bồi đắp, các ruộng lúa mới cho năng suất cao như hiện nay.

Ông Bảy nói chắc là do quá trình bồi đắp đất, nhiều xác cây mục rữa cứ chồng từ lớp này lên lớp kia, lâu dần tích tụ thành khí rồi sinh ra gas. Hàng trăm năm, lượng gas dưới lòng đất không phân tán được, mãi đến khi thiếu nước sạch sinh hoạt quá  các hộ dân nơi đây khoan giếng lấy nước thì gas mới bắt đầu “trồi” lên. Ông Bảy khẳng định suy luận của ông là rất có cơ sở, vì trước đây khi nhiều hộ đào giếng bằng tay để lấy nước, họ còn phát hiện nhiều xác cây rất lớn chưa phân hủy được hết. Qua lớp xác cây là đến lớp đất mùn như than mục, nhưng tuyệt nhiên, ngày đó không có gas. Vì sức của con người đào giếng thì cũng không thể đào sâu xuống trên 50m để phát hiện ra gas một cách ngẫu nhiên như kiểu làm giếng khoan.

Thông thường, hầu hết các hộ trong vùng khoan giếng thấy gas là bỏ ngang, không khoan tiếp. Duy nhất trong toàn vùng, chỉ có hộ ông Nguyễn Văn Kiểu là khoan giếng vừa tìm được gas vừa tìm được nước. Cũng không biết vì sao lại có chuyện lạ đời vậy. Ông trưởng ấp nói nhà ông Kiểu được “Tổ đãi” nên mới có nước mà dùng. Một vài hộ khi khoan thấy khí gas, vẫn cố gắng khoan tiếp, qua lớp đất mùn đen sẽ tới lớp cát, qua lớp cát nữa mới tới nước. Nhưng nước vẫn bị nhiễm phèn nặng, không dùng được.

Ông Trần Văn Bé, một hộ dân khác trong vùng đã xài gas tự nhiên nhiều năm nay nói  với giọng rất bí mật: “Ngày trước khoan giếng đơn giản lắm. Cứ kêu thợ tới bỏ tiền ra là khoan. Tuy nhiên, giờ khoan giếng phải làm kín kín chút xíu, chứ không có mấy ông cán bộ thấy là bị phạt liền. Họ nói làm hư mạch nước ngầm hay gì gì đó tui cũng không rõ nữa”.

Trước đây, cũng có vài đoàn nghiên cứu khoa học tìm đến vùng đất này để thử khảo sát về địa chất nhưng rồi sau khi đến và đi, cho đến giờ vẫn chưa thấy có một kết luận chính xác về trữ lượng gas cũng như nguyên nhân xác đáng nhất giải thích hiện tượng gas tự nhiên ở đây. Hầu hết các hộ dân chúng tôi tiếp xúc đều vừa mừng vừa lo vì không biết “mình xài gas tự nhiên vậy có khi nào bị nhiễm gas độc hay không”. Ông Trần Văn Bé khẳng định gas tự nhiên ở đây là loại gas chứa nhiều tạp chất, không sạch. Vì khi nấu bằng lửa gas tự nhiên ít lâu, các vật dụng nhà bếp đều bị ám khói đen. Nhưng, những vết bẩn này cũng dễ lau chùi, nên dẫu cho khẳng định gas có nhiều tạp chất ông Bé vẫn tự bào chữa: “Tạp chất vậy thôi, chứ chắc là không có độc đâu, phải không chú!”. Làm sao chúng tôi trả lời câu hỏi này được, vì chúng tôi không là chuyên gia về khí đốt lại càng không là nhà nghiên cứu khoa học.

Tiễn chúng tôi ra khỏi con đường nhỏ để về lại thành phố, ông trưởng ấp cứ dặn với theo: “Chú làm sao phản ánh được chuyện ở đây coi có ai đưa ra kết luận gas có độc hay không để bà con yên tâm. Có độc thì cứ cấm xài, không độc thì cho phép bà con sử dụng. Nhưng, điều quan trọng nhất là phải nghiên cứu sao đó để bà con có nước sạch mà xài chứ. Không lẽ, bà con trong vùng cứ phải đợi trời mưa mới có nước sạch sao(?!)”.

Chúng tôi mang câu hỏi này vào bài viết với hy vọng rất mong nhận được câu trả lời từ các cơ quan nghiên cứu về địa chất cũng như khí đốt trong thời gian sớm nhất

Kinh Hữu
.
.
.